Thứ Ba, 25 tháng 7, 2017

273 /Người xưa đã đúc kết về vợ như thế nào?

Các nhà khảo cổ ở thành phố Châu Thành, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc mới đây đã tìm được một thư tịch cổ có tên ”Phu phụ hữu biệt”. Trong cuốn này có đoạn viết:
- Khi ta đúng, kẻ nào khen ta, đó là bạn ta
- Khi ta sai, kẻ nào chê ta, đó là thầy ta
- Khi ta sai, kẻ nào khen ta, đó là kẻ thù của ta
- Khi ta đúng, kẻ nào vẫn quả quyết nói ta sai, kẻ đó chỉ có thể là… vợ ta
Thư tịch này được cho là của Thảm Tử, một triết gia nổi tiếng cùng thời với Mạnh Tử.
Sưu tầm 

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2017

472/ MƠ

Mơ chiều xuân  mây gió buông khơi   
   Hoa cỏ giăng mơ  nẻo chân trời 
                   Bàn chân em nhỏ trên thuyền  thẳm 
                                 Con sóng chập chùng em gọi  em ơi .
         
                                               

 





Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2016

469 / Ngày 20-11-2016



                  Hai mươi sáu năm miền  bục giảng .
                 Ôi góc thiên đường nơi chốn trần gian! 
                 Bốn mùa ru niềm nỗi đa mang. 
                 Hạnh phúc muộn màng giữa chiều tắt nắng.







                                         

















Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2016

468/ CẢNH NGÀY XUÂN

Mộc Nhân
Nói đến nghệ thuật miêu tả trong Truyện Kiều, bên cạnh những đoạn tả người độc đáo phải kể đến những đoạn thơ tả cảnh tài tình. Đoạn trích Cảnh ngày xuân là một dẫn chứng tiêu biểu cho bút pháp tả cảnh giàu chất tạo hình trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Đoạn trích Cảnh ngày xuânnằm ở phần đầu tác phẩmTruyện Kiều của Nguyễn Du. Đây là một bức tranh thiên nhiên, lễ hội mùa xuân tươi đẹp được gợi lên qua bút pháp miêu tả giàu chất tạo hình của nhà thơ.

          Đoạn trích gồm mười tám câu thơ được kết cấu theo trình tự thời gian của cuộc du xuân :
1.     Bức tranh cảnh ngày xuân:
“Ngày xuân con én đưa thoi
         Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”
          Mùa xuân có chín mươi ngày, thấm thoắt sáu mươi ngày đã trôi qua, tiết trời đã bước sang tháng ba, tháng cuối cùng của mùa xuân. Trên bầu trời những cánh chim én bay lượn như thoi đưa, không gian vẫn còn ánh thiều quang rực rỡ.
          Chỉ với hai câu thơ mà nhà thơ vừa gợi thời gian vừa tả không gian. Những chi tiết con én, thiều quang mang nét đặc trưng cho thiên nhiên mùa xuân, hình ảnh con én đưa thoi vừa tả thực vừa mang ý nghĩa ẩn dụ gợi thời gian trôi qua nhanh .
Nhưng có lẽ cái thần sắc của mùa xuân nằm ở hai câu thơ:
“Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”.
          Từ cái nhìn toàn cảnh, nhà thơ đã chuyển sang miêu tả cận cảnh. Hai dòng thơ như vẽ ra trước mắt người đọc một bức họa tuyệt đẹp bằng ngôn từ. Bức tranh mùa xuân mở ra một không gian mênh mông với cái nền là màu cỏ non xanh kết dệt thành một tấm thảm trải rộng tới tận chân trời. Trên cái nền xanh ấy, nhà thơ đã điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng nở lác đác. Màu sắc của bức tranh đạt tới sự hài hoà tuyệt diệu. Tất cả đều gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân: vừa mới mẻ, tinh khôi, giàu sức sống vừa khoáng đạt, trong trẻo vừa nhẹ nhàng, thanh khiết.
          Đặc biệt với từ “điểm” là nhãn tự của đoạn thơ, màu sắc trắng tinh khôi của hoa lê được nhấn mạnh. Cảnh vật trở nên sinh động, có hồn hơn chứ không tĩnh tại. Bức tranh dù đang ở trong trạng thái tĩnh nhưng dường như sự vật đang có sự vận động tinh tế.
Bằng nghệ thuật phối màu, dựng cảnh tinh tế, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ điêu luyện, nhà thơ đã phác họa nên một bức tranh xuân thơ mộng với đủ màu sắc, đường nét, hình khối. Ẩn sau những nét vẽ ấy là nhịp đập của trái tim người nghệ sĩ với lòng yêu thiên nhiên sâu sắc.
          Câu thơ của Nguyễn Du làm ta nhớ đến hai câu thơ cổ Trung Quốc: “ Phương thảo liên thiên bích – Lê chi sổ điểm hoa”(Cỏ thơm liền với trời xanh- Trên cành lê có mấy bông hoa). Câu thơ cổ Trung Quốc đã vẽ lên được vẻ đẹp riêng của mùa xuân có hương vị của cỏ thơm (phương thảo), có màu xanh của cỏ tiếp nối với màu xanh của trời (liên thiên bích), có hình ảnh cành lê tươi đẹp. Cảnh đẹp mà dường như tĩnh tại. 
Câu thơ Trung Quốc chỉ nói tới cành hoa lê mà không nói tới sắc màu trắng của hoa. Trong câu thơ của Nguyễn Du, nhà thơ chỉ thêm một chữ trắng mà làm cho bức tranh đã khác hẳn. Chữ “trắng” đã trở thành điểm nhấn kết hợp với động từ “điểm” làm nổi bật thần sắc của hoa lê, cảnh vật trở nên sinh động và có hồn.
 Có thể nói nhà thơ Nguyễn Du chịu ảnh hưởng cái hay của thơ ca Trung Quốc nhưng ông đã tiếp thu một cách sáng tạo để làm giàu cho thơ ca dân tộc.
2.     Khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh .
          Tiết Thanh minh khí trời mát mẻ, có hai hoạt động diễn ra cùng lúc là lễ tảo mộ - đi viếng, sửa sang phần mộ của người thân và hội đạp thanh - đi du xuân ở chốn đồng quê.
Khung cảnh lễ hội du xuân được miêu tả thật tưng bừng, náo nhiệt:
Gần xa nô nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
         Dập dìu tài tử giai nhân
         Ngựa xe như nước, áo quần như nêm”
          Bút pháp nghệ thuật miêu tả ước lệ lại được thể hiện rõ nét qua nhiều hình ảnh ẩn dụ, so sánh mang ý nghĩa tượng trưng:  yến anh…như nước… như nêm... Đặc biệt, nhà thơ đã dùng nhiều từ ngữ có sức gợi tả phong phú:
         - Hàng loạt danh từ : yến anh, chị em, tài tử, giai nhân, ngựa xe, áo quần gợi tả sự đông vui, nhiều người toàn là nam thanh nữ tú ăn mặc đẹp đẽ rủ nhau đi du xuân. Hình ảnh yến anh mang ý nghĩa ẩn dụ gợi lên cảnh đoàn người nhộn nhịp đi chơi xuân như chim yến, chim oanh bay lượn ríu rít.
          - Hàng loạt động từsắm sửa, dập dìu...vừa gợi tả sự rộn ràng, náo nhiệt, chuẩn bị trong ngày hội vừa nói lên cái nhịp điệu trữ tình trong bước chân của những đôi trai tài gái sắc đi chơi hội.
          - Hàng loạt tính từgần xa, nô nức…làm rõ tâm trạng náo nức của người đi hội.
          Một không khí đông vui, sống động, náo nức đang bao trùm cả đất trời, cả mọi vật, thấm vào cả lòng người. Qua cuộc du xuân, nhà thơ còn khắc hoạ một truyền thống văn hoá lễ hội có từ xa xưa, đó là tục rắc vàng vó, đốt tiền giấy và hàng mã để tưởng nhớ những người thân đã khuất.
3.     Cảnh chị em Thuý Kiều đi du xuân trở về.
          Ngày dần tàn, thời gian đang chuyển đổi sang chiều: “Tà tà bóng ngả về tây”.Trong văn chương, hình ảnh buổi chiều thường gợi lên cảm giác buồn, sự tàn phai. Cuộc du xuân thưởng cảnh náo nức tưng bừng là thế giờ đã lặng lẽ chìm vào cô tịch. Không gian vẫn còn mang cái thanh dịu, đẹp đẽ qua các hình ảnh sự vật:
Bước dần theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
         Nao nao dòng nước uốn quanh
         Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”.
          Cái không khí nhộn nhịp rộn ràng của lễ hội không còn nữa, tất cả đang nhạt dần, lặng dần.
Con người không còn sự nô nức dập dìu nữa mà thay vào đó là trạng thái thơ thẩn, cử chỉ dan tay, nhịp chân bước dần, cái nhìn man mác bâng khuâng lần xem phong cảnh…
Còn cảnh vật thì nhỏ bé, chuyển động nhẹ nhàng: dòng suối chỉ là ngọn tiểu khê, phong cảnh có bề thanh thanh, dòng nước nao nao uốn quanh, dịp cầu nho nhỏ…Tất cả đều êm đềm, vắng lặng.
 Thời gian, không gian, tâm trạng con người giờ đây đều đã thay đổi trong sự đối lập với lúc du xuân, lễ hội. Đó cũng là qui luật vận động của tự nhiên, của cuộc sống, của trạng thái tâm lí con người.
          Với những từ láy tà tà, thanh thanh, nao nao, nhà thơ Nguyễn Du không chỉ diễn tả sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng của chị em Thuý Kiều. Đặc biệt là hai chữnao nao đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật.
Dường như cảm giác bâng khuâng xao xuyến về một ngày vui đang còn mà trong lòng người đã có linh cảm về điều gì đó sắp xảy ra. Chỉ có những tâm hồn đa sầu đa cảm như Thuý Kiều, chỉ có những ngòi bút miêu tả đầy tài năng như Nguyễn Du thì mới thể hiện được những cảm nhận tinh tế như thế.
           Đoạn thơ có kết cấu theo trình tự thời gian rất phù hợp với cuộc du xuân của chị em Thuý Kiều. Kết cấu này cũng phù hợp với diễn biến tâm trạng con người trong cuộc du xuân. Tác giả sử dụng rất thành công bút pháp nghệ thuật kết hợp giữa tả và gợi. Bút pháp ấy được thể hiện qua cách chọn lọc hình ảnh vừa tả thực, vừa mang ý nghĩa tượng trưng ẩn dụ; cách dùng từ ngữ có giá trị gợi hình, gợi cảm cao.
          Đoạn trích Cảnh ngày xuân quả thực là một bức tranh mùa xuân tươi đẹp, sống động nhưng cũng đầy tâm trạng mang theo dư âm của cái đã qua chuẩn bị cho những gì sắp đến. Cảnh ấy đọng lại trong tâm hồn con người không chỉ bởi ngòi bút miêu tả tài hoa của tác giả mà còn bởi tâm hồn nhà thơ gởi vào cảnh vật, gởi vào cuộc đời, số phận nhân vật.
          Mộc Nhân



467/ Chị em Thúy Kiều


Mộc Nhân
(Tư liệu giáo khoa)




Kể từ lúc ra đời cho đến hôm nay, thời gian trôi qua đã ngót trên hai trăm năm, vậy mà Truyện Kiều của Nguyễn Du vẫn mãi mãi sống trong tâm hồn dân tộc. Tác phẩm không chỉ nổi tiếng vì cốt truyện hay, lời văn trau chuốt, giá trị hiện thực và giá trị nhân văn cao cả mà còn vì các nhân vật chính diện trong truyện như Thúy Kiều, Thúy Vân được ngòi bút sắc sảo của Nguyễn Du miêu tả vô cùng đẹp đẽ, sinh động, đầy ý nghĩa thẩm mĩ. Nguyễn Du không chỉ ca ngợi vẻ đẹp, tài năng mà còn dự cảm về cuộc đời và số phận nhân vật. Đó cũng chính là biểu hiện của cảm hứng nhân văn trong tác phẩm.

Thuý Vân, Thuý Kiều là hai cô con gái đầu lòng của gia đình họ Vương. Ngay từ đầu, nhà thơ đã gây được mối thiện cảm khác thường cho người đọc về hai chị em qua dòng thơ giới thiệu: “Đầu lòng hai ả tố nga”. Từ tố nga - là một mỹ từ ý nói cả hai chị em đều là những cô gái đẹp. Vẻ đẹp của họ được khái quát trong hai câu thơ:
         “Mai cốt cách, tuyết tinh thần
         Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười ”.
          Cốt cách của họ mảnh mai, thanh tao, sang trọng như cây mai.
Tâm hồn, tính cách của họ thì trong trắng như tuyết. Nhà thơ đã dùng hình ảnh ước lệ, tượng trưng - lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người.
Câu thơ có sử dụng hình thức tiểu đối nhằm thể hiện vẻ đẹp toàn diện, toàn mĩ của cả hai chị em.
          Nhìn chung cả hai đều đẹp - mười phân vẹn mười - nhưng nhìn riêng thì mỗi người lại có một vẻ đẹp riêng - mỗi người một vẻ.
          2. Sau những câu thơ giới thiệu về hai chị em, ngòi bút Nguyễn Du lại có chiều hướng cụ thể hơn trong bức chân dung quí phái của Thuý Vân. Tác giả đã khái quát vẻ đẹp của Thuý Vân qua cụm từ trang trọng khác vời. Hai chữ trang trọng nói lên vẻ đẹp cao sang, quí phái của nhân vật. Vẻ đẹp ấy của thiếu nữ được so sánh với những thứ cao đẹp trên đời chỉ với mấy dòng thơ:
“Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”
          Chân dung của Vân được miêu tả một cách khá toàn vẹn từ khuôn mặt, nét mày, làn da, mái tóc đến nụ cười, tiếng nói. Vân có khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu như vầng trăng, có đôi lông mày sắc nét như con ngài, có miệng cười tươi thắm như hoa, giọng nói trong trẻo thốt ra từ hàm răng ngà ngọc và mái tóc của nàng đen hơn mây, làn da của nàng trắng hơn tuyết, sắc đẹp của Vân sánh với những nét kiều diễm, sáng trong của những báu vật tinh khôi đất trời. Tất cả toát lên vẻ đẹp trung hậu, êm dịu, đoan trang, quí phái. Vân đẹp hơn những gì mĩ lệ của thiên nhiên nhưng tạo sự hoà hợp, êm dịu "mây thua", "tuyết nhường".
Bằng một loạt những nét miêu tả có tính chất ước lệ kết hợp với các biện pháp nghệ thuật như so sánh, ẩn dụ, nhân hoá …và hệ thống từ ngữ chọn lọc, tác giả đã khắc hoạ thành công chân dung Thuý Vân. Nét đẹp nào của nàng cũng hoàn hảo và được đem so với những thứ cao quí của thiên nhiên.
          Đặc biệt với cặp từ nhân hóa …thua…nhường…nhà thơ muốn gửi tới những thông điệp về tương lai, cuộc đời, số phận nhân vật. Vẻ đẹp ấy phù hợp với chuẩn mực thẩm mĩ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến với nét nổi bật là sự đoan trang, phúc hậu, nền nã; tạo được sự hoà hợp; thiên nhiên không ganh ghét với nàng, vì thế cuộc đời của nàng sẽ bình lặng và hạnh phúc, suôn sẻ.
          3. Cũng như cách miêu tả Thuý Vân, câu thơ mở đầu khái quát vẻ đẹp của nhân vật Thuý Kiều: “Kiều càng sắc sảo mặn mà”. Kiều có tất cả những gì Thuý Vân có nhưng ở mức độ “So bề tài sắc lại là phần hơn” . Nàng sắc sảo về trí tuệ và mặn mà về tâm hồn.
Tác giả tiếp tục sử dụng những hình tượng nghệ thuật ước lệ với các biện pháp nghệ thuật truyền thống trong văn thơ cổ như ẩn dụ, nhân hoá, so sánh, tượng trưng…Nét vẽ của thi nhân thiên về gợi hơn là tả chi tiết cụ thể, tạo ấn tượng chung về vẻ đẹp của một giai nhân tuyệt thế.
          Khắc hoạ chân dung Thuý Kiều, tác giả tập trung gợi tả vẻ đẹp của đôi mắt: “Làn thu thủy, nét xuân sơn”. Hình ảnh làn thu thuỷ gợi lên đôi mắt đẹp, sống động, sáng ngời, gợi tình như sóng nước như làn nước mùa thu; nét xuân sơn gợi lên đôi lông mày thanh tú cong cong mềm mại,  như vẻ núi mùa xuân trên khuôn mặt trẻ trung. Cách miêu tả khiến khi đọc lên, ta như thấy có ánh sáng và làn sóng xao động bên trong. Chỉ vậy thôi mà bao ẩn ý. Đôi mắt nhìn đời, nhìn người sâu thẳm. Đôi mắt dạt dào, ẩn chứa bao tình cảm lai láng: biết yêu thương, căm hận, nhức nhối, sẻ chia,… Đôi mắt thể hiện một đời sống nội tâm phong phú. Đôi mắt “tinh đời” chứ không như đôi mắt đẹp mà vô hồn, vô cảm của Thúy Vân .Đôi mắt của Kiều là sự thể hiện của trí tuệ và tâm hồn. Với đôi mắt ấy, Thuý Kiều trở nên quyến rũ và xinh đẹp đến mức:
                   “Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
                      Một hai nghiêng nước nghiêng thành”.
          Thành ngữ nói quá nghiêng nước nghiêng thành  lấy từ một điển tích xưa ý nói sắc đẹp tuyệt vời của người phụ nữ có thể làm cho người ta say mê đến mức điên đảo. Sắc đẹp ấy, đôi mắt ấy là của một tuyệt thế giai nhân hiếm có, đẹp như thế thì trên đời này chỉ có một -“ Sắc đành đòi một”.
          Với cách dùng cặp từ nhân hóa “ghen…hờn” nhà thơ muốn nói vẻ đẹp của Kiều làm cho tạo hoá ganh ghét, đố kị. Thiên nhiên vốn là vẻ đẹp vĩnh cửu vậy mà cũng phải “ghen”, “hờn” trước một nàng Kiều “sắc sảo mặn mà”. Hoa không tươi thắm bằng dung nhan của nàng, liễu kém phần tươi non so với sức sống, tuổi trẻ mơn mởn của Kiều.Nguyễn Du đã sử dụng biện pháp nhân hóa để thổi linh hồn vào câu thơ làm ý thơ thêm phần sống động và trước mắt ta hiện ra một náng Kiều trẻ trung với tuổi xuân tràn đầy như hoa vừa đang độ nở, liễu đến kì xanh tươi. Kiều sẽ phải sống thế nào trong bể đời “hồng nhan đa truân”.
Nguyễn Du tài hoa ở chỗ ông không chỉ miêu tả ngoại hình để thể hiện tính cách, mà còn thông qua đó dự đoán số phận, cuộc đời nhân vật. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Du dùng cặp từ “thua, nhường” để miêu tả Thúy Vân và cặp từ “ghen, hờn” để miêu tả Thúy Kiều. Ảnh hưởng, tác động của nét đẹp hai Kiều với tạo hóa lại đi theo hai hướng khác nhau. Tả Vân, câu thơ Kiều thanh thản bao nhiêu thì khi tả Kiều, câu chữ Tố Như lại trăn trở bấy nhiêu. Như vậy đó, chỉ mới mươi câu Kiều mà đã giúp ta thấu hiểu tấm lòng ưu ái sâu sắc, bao la của nhà thơ nhân đạo Nguyễn Du: ông yêu thương, nâng niu tất cả. Có điều, với Thúy Kiều là cả một sự yêu thương, nâng niu đầy băn khoăn, lo lắng trước số phận dự báo sẽ gặp nhiều éo le đau khổ và bất hạnh.
           Kiều là con người đa tài. Tài của Kiều đạt đến mức lí tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến gồm cả thi, họa, ca ngâm.
Thông minh vốn sẵn tính trời
Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm”
Với những từ ngữ nghề…làu…nghề riêng ăn đứt…tác giả muốn nói tài nào của nàng cũng đạt đến độ điêu luyện, vượt lên trên mọi người, trở thành nghề riêng của nàng. Tài năng như thế trên đời này thật hiếm có “tài đành hoạ hai”.
Đặc biệt với tài đàn là ngón nghề sở trường, Kiều đã sáng tác nên bản đàn Bạc mệnh  nghe rất sầu não, buồn thương:
“Khúc nhà tay lựa nên chương
Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân”
          Dường như số phận đã nhập vào điệu hồn riêng của nàng để hoá thân thành bản đàn “Bạc mệnh” mách bảo người nghe về một tương lai dâu bể sẽ xô cuốn đời nàng. Câu chữ, lời thơ chất chứa sự ngợi ca, ngưỡng mộ mà băn khoăn, lo lắng cứ xốn xang trên mỗi từ ngữ của Tố Như. Nhưng làm sao khác được, “Thiên bạc mệnh” ai oán đã vận vào Kiều Khúc đàn ấy cũng là tiếng lòng của một trái tim đa sầu, đa cảm, cũng là tín hiệu dự báo cuộc đời sầu não, trắc trở của nhân vật. 
 Tả Thuý Vân, Nguyễn Du chỉ dùng bốn câu thơ trong khi đó tả Thuý Kiều ông đã dùng đến mười hai câu thơ. Chân dung của Thuý Vân chủ yếu là sắc đẹp, còn chân dung nàng Kiều là sự kết hợp của sắc- tài- trí thông minh- tình cảm- tâm hồn- tính cách- số phận. Về trình tự miêu tả, tác giả tả Vân trước làm nền, tả Kiều sau để nàng được nổi bật trên cái nền ấy. Đó là bút pháp nghệ thuật đòn bẩy, tả khách hình chủ nhằm làm nổi bật chân dung nhân vật. Điều đó chứng tỏ nhà thơ đã dành nhiều quan tâm, ưu ái dành cho nhân vật Thuý Kiều, nhân vật trung tâm của tác phẩm.
           Đoạn thơ có kết cấu khá chặt chẽ, nhà thơ đã đi từ giới thiệu khái quát đến miêu tả cụ thể từng bức chân dung nhân vật và cuối cùng là đánh giá về nhân vật. Điều ấy nói lên cách miêu tả nhân vật rất sâu sắc và tinh tế của tác giả.

Đoạn trích không chỉ cho ta thấy nghệ thuật miêu tả nhân vật bằng bút pháp ước lệ cổ điển mà còn thể hiện cảm hứng nhân văn của nhà thơ trong tác phẩm. Biểu hiện của cảm hứng nhân văn ấy là sự đề cao những giá trị con người. Đó là vẻ đẹp, nhân phẩm, tài năng, ý thức về thân phận con người. Gợi tả tài sắc chị em Thuý Kiều, Nguyễn Du đã trân trọng, dành hết tình cảm, sự ưu ái cho nhân vật của mình.

Mộc Nhân Lê Đức Thịnh