Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

295/ NGƯỜI THẦY CỦA LÀNG TÔI

Nguyễn Tấn Ái
           
Lớp học bình dân học vụ đã làm nên cái tên một người thầy giáo, xóm làng trân trọng gọi: giáo Tân.
            1975, tháng tư, cả nước thống nhất. Độc lập rồi, hết đau thương mà còn rất đỗi tang thương: ruộng đồng hoang hóa, gia đình li tán côi cút từ hai phía, cái đói đang rình rập…Nửa nước như con đại bàng rũ cánh đứng dậy từ tro tàn hãy còn nghi ngút khói, dựng nhà, vỡ hoang…Ngày làm tối họp. Không họp sao hiểu được tinh thần chủ trương mới, mà quá mới, của Đảng và nhà nước đối với những người dân miền Trung vừa lóp ngóp từ khu tị nạn trở về. Đụng đến cái họp mới phát hiện ra một lỗ hổng lớn trong dân: thiếu chữ. Họ không đọc được sách báo chỉ thị, không hiểu mô tê, không biết cộng trừ có nhớ! Hóa ra mấy mươi năm hết cách mạng rồi quốc gia, hết quốc gia rồi cách mạng, người dân quê cứ ngả nghiêng từ trụ bám sang khu dồn, từ khu dồn về trụ bám, cố bám lấy cái sống đã là may, chuyện chữ nghĩa truyền thống mấy mươi năm gặp binh lửa chiến tranh như đã thiêu rụi rồi. Vậy là làm lại. Một phong trào bình dân học vụ cấp thời dấy lên, tự giác và tự phát. Cả làng gom lại được mấy thầy giáo già đã hết khí lực, vài vị tú tài bán, gia tài trí thức của cả làng xã thật còm cỏi.
            Những đêm bình dân học vụ  thật nức lòng, ê a tiếng học bài trên bờ ruộng, trên nương rẫy, cứ như cả làng hóa trẻ thơ. Lòng người cũng hóa trẻ thơ, phơi phới, quên cái nhọc, cái đói, trong câu chuyện phiếm giờ nghỉ bao giờ cũng là những ông giáo bình dân, dần quy tụ về một cái tên: Giáo Tân. Giáo Tân bao giờ cũng đúng giờ như cái kim đồng hồ. Giáo Tân nghiêm như cây thước kẻ. Giáo Tân kẻ vở cho cụ Hóa, cầm tay con Tình tập viết, cấm thằng Hoàng còn liếc gái thì đừng bước vào lớp học… Nghiêm vậy mà không hiểu sao cả làng đều thích. Suốt hai năm làm người thầy giáo không ngạch bậc, chiến công là cả làng được ủy ban xã tuyên dương thành tích xóa mù.  Giáo Tân được tổ bình dân cử nhận giấy khen của xã . Xong vụ, người thầy ấy lại lui cui về làm một lão nông lấm láp song đến tận bây giờ cái danh hiệu ông giáo trót mang vác theo thời vụ của anh vẫn được cả làng trân trọng nhắc nhỏm. Tôi thật ngưỡng mộ nên đến tận bây giờ vẫn không nguôi tò mò về con người kì lạ ấy.


            Ông giáo ấy cũng đặc biệt quý tôi, người thầy duy nhất của làng đã nhiều phen đem chuông đi đánh xứ người, vậy nên mỗi khi tôi lân la gợi chuyện, anh thường vui vẻ tâm tình như bè bạn dù khoảng cách tuổi tác của tôi với anh cũng gần một thế hệ. Càng lúc tôi càng hiểu ra điều làm nên phong cách người thầy chân quê ấy là một khát vọng tri thức cứ cháy không nguôi.  Trên tấm vách ván nhà anh thường chọn lọc vài câu ngạn ngữ bằng tiếng anh làm tôi tò mò tợn, con người mở vách cửa đi ra rồi khi về lại khép vách lại ấy quyết không lòe đời bằng tân học. Lò dò tôi đọc:
            Great mind think alike
            Think before you speak
            God is love
Hỏi thì được biết anh sợ quên thứ vốn liếng tiếng anh ít ỏi hồi còn đi học nên tự ôn đó thôi. Để làm gì? Câu trả lời của anh thật bất ngờ: Để tự nhắc nhở mình là người có học! Chao ôi, tôi chợt giật mình, liệu cái ý thức căn bản ấy đến nay mấy phần trăm giới trí thức còn ý thức nhỉ?Tôi học ở anh sự chín chắn về tri thức, từ hồi còn là sinh viên, đôi khi gần gũi, tôi cũng ba hoa nhiều lắm. Như có lần tôi khẳng định bác Hoàng Quý viết Cô Láng Giềng để tặng người yêu cũ khi đi kháng chiến, 1954 hòa bình lập lại, đoàn tụ với người xưa, nhạc sĩ nói bài hát không dành tặng cho mình nữa mà dành tặng cho những đôi lứa dang dỡ!!! Anh lặng nghe, không bình luận gì. Một thời gian sau anh cho tôi mượn quyển nhạc tiền chiến đã cũ vàng mà anh còn cất giữ. Lật từng trang sách, tôi đọc được dòng chữ đã gạch chân bằng bút đỏ: Nhạc sĩ Hoàng Quý mất năm 1946! Mới biết ông Hoàng Quý mà mình tóm được ở cửa miệng mấy chàng sinh viên trường nhạc là hàng dỏm. Rồi càng già tuổi đời tôi càng thích gần gũi anh hơn, mỗi khi đàm luận về cầm kì thi họa, về cuộc sống xã hội, bao giờ trong anh cũng là một tri thức chắc lọc và chắc chắn. Tôi hiểu vì sao khi làm thầy, anh được cả làng mến yêu đến thế.
Tôi thích cách sống ngăn nắp, thư thả, cẩn trọng của anh. Tôi thì không thế, cứ tất bật tới tấp những dự định mà có đến quá nửa là hoang phế, có lúc cuống cả người lên vì những tự hối thúc không đâu. Tôi tìm ở anh một lời khuyên, một quan niệm. Anh tĩnh tại: Em à, cái đích cuối cùng của mỗi người đều đã định sẵn, vội vã hãy thư thới đều để đi đến cái chết. Vậy mà lắm người cứ cuống cuồng chạy đến một cái đích không mong muốn. Vậy nên với anh sống là sắp xếp đời mình ngăn nắp để về đích gọn gàng mà thanh thản nhất. Câu chuyện với anh đã sáng ra trong tôi bao nhiêu điều, hình như đâu tôi đã loanh quanh hoài, đã tiệm ngộ để giờ nên đốn ngộ. Tôi yêu mến anh, yêu mến thầy giáo làng ấy, có lẽ đây là bài học mà anh sở đắc nhất, và chỉ chân truyền cho những học trò mà anh cho rằng có tư chất nhất.
Nói về anh, tôi chợt nhớ một tứ thơ, của ai thì cũng đã quên rồi:
            Về trời một nẻo nôn chi
            Gã già thư thái vừa đi vừa thiền!
NTA
           



294/ MÙA CHO EM




  Mến tặng  học sinh các lớp chất lượng cao Nguyễn Hiền

Học sinh lớp 81 -THCS  Nguyễn Hiền đang học giờ Ngữ văn 
  
Còn nhớ  mùa thu  nào   
  em đến trường - con đường
                           gập ghềnh rẫy, đồng,  đồi,  suối  
 mỗi ngày - trang vở
                             nặng trĩu lúa khoai, gà,vịt.
  cái chữ  em
                       khô cằn trong nắng  gió
                       hắt  hiu  lạnh  trở mùa
                       gồng mình đêm  giông  bão …



                   ***
  Mùa thu mới
                     cho em
                     nâng niu cái chữ  xinh tròn  
                     nâng niu  điểm hồng  tươi thắm
                      nâng niu  chân trời em vẽ
   ngày mỗi   ngày nâng niu.  
  
                   ***

    Em ơi
    đất quê  mình vẫn gập ghềnh rẫy,đồng,  đồi, suối 
    đôi vai mẹ vẫn nặng trĩu lúa khoai, gà, vịt
    lời ru cha cháy nắng gió
                         chồng chềnh bão giông ....

                     ***

         Mùa thu chờ ….
                          mùa xuân  
         Mỗi ngày cho em
         chiều đông  giấu trong đêm
         chờ  em...
                 cánh diều  căng gió  mùa xanh.         
          
              
                                                 Nguyễn Thị Bích Trâm
         

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2013

293/ THẦY ƠI

            Huỳnh Thị Hồng Vy giáo viên trường THCS Nguyễn Hiền Phú Ninh                                 

Thưa thầy!
Hôm nay con đã thành cô giáo
Ngày 20 được nhận lắm những hoa
Học trò nhỏ quê nghèo toàn hoa dại
Nhưng con vui như đứa trẻ được quà.

Ngày 20!
Con nhớ thầy thưở ấy
Bài học nào con mãi khắc ghi
“Đường đời lắm thăng trầm và lầm lỗi..
Lỡ sa chân có gặp lại chính mình?”



Con đã lớn trước lời thầy cao lộng
Có lúc nào đã lỡ bước sa chân
Lời thầy đó và dáng thầy bé nhỏ
Lại soi đường cho con bước hôm nay

Ngày 20!
Bên con, học trò và hoa dại
Và bên thầy – giờ này còn có ai?
Con đi xa chẳng về thăm thầy cũ
Để cha già…
                    Lặng lẽ…….

                                         Tóc pha sương….

292/ THIÊN THẦN

Huỳnh Thị Hồng Vy giáo viên trường THCS Nguyễn Hiền Phú Ninh

Viết tặng cô giáo cũ nhân ngày 20/11

Hôm nay là ngày 20/11. Tôi mon men trên con đường nhỏ, nhầy nhụa sau mùa mưa lũ, bàn chân trơn trợt và vấp ngã liên tục, mắt cay cay…..
Ngày ấy, bao lần tôi vấp ngã, cô luôn đứng bên cạnh, không đỡ tôi dậy, cũng không có những lời xuýt xoa vừa mắng vừa nựng yêu như mẹ tôi ở nhà, chỉ bảo: “Em ngã chỗ nào thì đứng lên chỗ đó”. Tôi đau điếng nhưng vẫn cố gượng dậy. Từ đó, tôi luôn cố tự mình đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã trên đường đời của mình. Trong những lần ấy, tôi như nhìn thấy ánh mắt cô -  thiên thần của tôi mỉm cười.

Cô là thần tượng đầu tiên của tôi, cũng là thần tượng duy nhất. Khi cô bước vào lớp, cả không gian như bừng sáng. Cô là người phụ nữ đẹp nhất mà tôi từng thấy. Cô cũng xinh đẹp và dịu dàng hơn hẳn những cô giáo khác. Khi cô hát, tôi như đang phiêu du trên đồng cỏ xanh, đang bay theo những đàn bướm trắng, như lơ lững giữa tầng mây… Khi cô xoa đầu tôi, với đôi bàn tay lấm tấm bụi phấn, tôi đã hạnh phúc đến nghẹt thở, để rồi sau đó khóc ầm lên kiên quyết không để mẹ gội đầu cho. Tôi đã nghĩ, cô là một thiên thần, chẳng may cô đánh mất đôi cánh của mình, thế nên cô xuống trần gian và đứng trên bục giảng mỗi ngày để khiến bọn trẻ con tin rằng vẫn luôn tồn tại một thiên đường tuyệt vời và bình yên. Thiên thần ấy không bao giờ tắt nụ cười trên môi và không bao giờ nóng giận. Thiên thần thường hay kể chuyện cổ tích cho chúng tôi nghe.
Có lẽ tuổi thơ tôi gắn liền với những trang truyện mà như cô nói: “vừa nhân hậu lại vừa tuyệt vời sâu xa”. Chúng tôi nào có biết tuyệt vời sâu xa là gì đâu, chúng tôi yêu những câu chuyện cô kể vì chúng tôi thường mơ đến những bà tiên, những thiên thần có thể giúp đỡ những người bất hạnh, và đôi lúc cũng ước những thiên thần, ông bụt, bà tiên đó có thể giúp chúng tôi vượt qua ….những bài thi và những điểm kém nữa. Không có ông bụt, bà tiên đến với chúng tôi, chỉ có …thiên thần – cô, nghiêm khắc nhưng nhân hậu, hiền từ, luôn uốn nắn chúng tôi từng con chữ, bày từng con toán hóc búa. Tuổi thơ tôi dần đi qua theo những câu chuyện cổ tích, gắn với những giấc mơ về thiên thần như thế
Rồi một ngày tôi cũng lớn lên, cũng đi xa, tôi cũng quên luôn những thiên thần, Cho đến hôm nay, lại đi trên con đường trơn trượt, tìm vào nhà cô. Tôi về chắc đã muộn màng, khi chỉ còn có thể thắp cho cô nén hương, nén hương muộn của đứa học trò nhỏ dại. Thiên thần của tôi không còn nữa, cơn bạo bệnh đến bất ngờ quá. Chắc thiên thần ấy đã bay về trời, nơi từ đó, thiên thần đã đến với chúng tôi, cho chúng tôi những bài học làm người bổ ích, cho chúng tôi những câu chuyện cổ tích tuyệt vời, và đặc biệt hơn nữa, cô đã cho chúng tôi biết rằng có một thiên thần như thế…

 Huỳnh Thị Hồng Vy


291/ TỰ NGHIỆM

    Nguyễn Tấn Ái

                        I.
            Khi không níu phố bỏ rừng
Con chim bỗng khản lưng chừng giọng ca
            Bần thần ta lại hỏi ta
Phải chăng tiền kiếp phù hoa nợ nần?



II.
Buồn khan li rượu
            Đời như xế rồi
            Tình tan như khói
            Thuốc tàn trên môi.

                    









                       III

            Mỏng như là lụa
            Không che nổi mình
            Cười chi chảnh thế
            Phù hư nhân sinh!
                       
IV
            Mặt trong như ngọc
            Môi thắm hoa hồng
            Cười bao thế kỉ
            Phù điêu tàn đông.


290/ HÁT MÃI LỜI RU


Huỳnh Thị Hồng Vy giáo viên trường THCS Nguyễn Hiền Phú Ninh

Ngày xưa
Đêm
Mẹ vẫn chong đèn
Lật từng trang giáo án
Cây bút tỉ tê
Lời ru nhè nhẹ
Mắt thoáng buồn vui theo từng con chữ học trò


Ngày nay
Con bước tiếp lời ru của mẹ
Bục giảng cao
Viên phấn tròn
Con chữ lên non
Gieo neo tìm bến đậu
Gập ghềnh, chênh vênh



Học trò con
Mắt tròn to….
đen lay láy….
Ngây ngô đến thẹn thùng
Cõng chữ qua sông, qua suối
Con chữ ướt mèm
Như tóc các em…

Con chẳng biết mình có đủ sức hong khô
Đôi mắt ướt
Nụ cười lem nhem

Nhưng con biết có lời ru của mẹ
Cho con vững lòng
Hát tiếp những lời ru….

HTHV


Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

289/ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN "PHỦ SÓNG" TRƯỜNG NGHÈO



Nguyễn Thị Bích Trâm 

Bài đăng trên báo giáo dục thời đại ngày 5-11-2013
Và báo điện tử GDTĐ


(GD&TĐ) - Trong những năm gần đây, Phú Ninh, Quảng Nam thực thi chương trình xây dựng nông thôn mới của một huyện điểm quốc gia. Dẫu điệp trùng gian khó, lãnh đạo các cấp vẫn luôn xác định mục tiêu đầu tư cho sự nghiệp trồng người. “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (UDCNTT) trong công tác giáo dục” được xác định là nhiệm vụ quan trọng để đổi mới phương pháp dạy học và quản lí. Vì thế  công nghệ thông tin (CNTT) đã được phủ khắp mạng lưới trường học trung học cơ sở (THCS).

Tất cả những hình ảnh dứơi đây đều là hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường THCS Nguyễn Hiền -Phú Ninh -Quảng Nam

Cô Nguyễn Thị Kim Thanh dạy giờ Sinh học  6

     Hành trình để đi đến với công nghệ mới này vẫn lắm gian nan. Huyện nông thôn nghèo mà kinh phí mua sắm trang thiết bị lại không  nhỏ. Hệ thống điện mạng ở một vài nơi không ổn định; các thiết bị đi kèm còn thiếu. Công tác bảo trì, bảo dưỡng cũng gặp không ít trở ngại…

Cái khó “ló” cái hay 
        Từ năm 2007 - 2013, CNTT đã dần dần thổi vào một luồng sinh khí mới trong dạy - học. Thầy Trưởng phòng GD Phú Ninh (Quảng Nam) Hồ Đắc Thiện, trong hội nghị cấp Phòng năm 2013, khi đánh giá về phong trào này trong 5 năm qua đã  tổng kết bằng những con số biết nói: “Chín trường THCS đều đã mua sắm 1 - 2 máy chiếu projector, xây dựng 1 phòng nghe nhìn, 1 phòng vi tính (trang bị 25 máy tính và năm nay, đầu tư mua sắm thêm 10 máy mới). Riêng các lớp chất lượng cao có ti vi màn hình rộng và phòng tin, phòng lab trang bị hiện đại. Tổng kinh phí cho hoạt động  này là gần 3 tỉ đồng”.    
       Không những thế, công tác nâng cao nhận thức cho CB, GV, bồi dưỡng kỹ năng UDCNTT được các cấp lãnh đạo rất chú trọng. “Mưa lâu thấm đất”, nhiều thầy cô từ chỗ không biết gì về máy tính nay đã có thể truy cập mạng, soạn thảo giáo án trên phần mềm Microsoft Office Word và phần mềm Microsoft Office PowerPoint.
      Ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng đã làm cho nguồn học liệu mở càng được cập nhật, bổ  sung, có chất lượng. Hầu hết các trường còn sử dụng các phần mềm tính điểm, quản lí điểm – nhờ vậy các thầy cô có thêm điều kiện về thời gian để đầu tư cho chuyên môn.    
       
Thầy Ka Văn Hường bồi dưỡng  Casio 7

Cô Nguyễn Thị Hải bồi dưỡng Anh 8


      Mặc khác, các cuộc thi GV giỏi UDCNTT từ cấp trường đến cấp huyện được tổ chức bài bản, qui mô, sâu rộng, thiết thực, tạo thêm chất men kích thích lòng yêu nghề đã thắp sáng niềm tin cho người dạy từ những  tiết học đầy hứng thú.
     Dẫu không tiên phong, rầm rộ, bề dày  như một số huyện bạn nhưng Phú Ninh cũng đã khẳng định mình ở 3 giải cấp tỉnh trong Hội thi “Soạn kế hoạch bài dạy UDCNTT” năm 2012 do VVOB tổ chức. Từ đó, các tiết dạy tiêu biểu có sử dụng phần mềm Photo story, Mindmap, Hot potatoes… một cách linh hoạt sáng tạo phát huy các PP dạy học tích cực ngày càng được  nhân rộng.            
     Lợi ích đối với thầy và trò quả không ít. Ở nhiều tiết dạy đòi hỏi phương tiện dạy học hỗ trợ, thầy cô không  phải mang bảng phụ, tranh ảnh cồng kềnh. Bài giảng chuyển tải được nhiều nội dung kiến thức, cập nhật được những thông tin thời sự, tạo hình ảnh trực quan sinh động, tính thực hành được tăng cường, tổ chức các hoạt động  “chơi mà học”, “học mà chơi” hấp dẫn, cuốn hút, bổ ích… GV làm chủ các PP dạy học tích cực: Sử dụng phương tiện, sơ đồ, bảng biểu, đặt và giải quyết vấn đề… HS hứng thú chủ động tìm kiếm tri thức làm chủ quá trình học tập không ngừng. 
      Tuy nhiên cái hay còn là các thầy cô giáo qua trải nghiệm trong thực tế đã thêm yêu CNTT và  già dặn hơn về chuyên môn. Thầy Ca Viết Hoàng - GV cốt cán của huyện - rất hào hứng: “Dạy môn Địa cần nhiều sơ đồ bản đồ, tranh ảnh nên CNTT là nhất nhất”. Thầy Phan Thy Hiến, giáo viên Toán dạy các lớp chất lượng cao thì  tâm sự: “Không phải tiết nào cũng ứng dụng tốt.
Vì  ở môn này cần cho HS thực hành nhiều, mình  phát hiện cái sai để  sửa chữa trên chính lời giải của các em”. Nếu cứ  trình chiếu kết quả thì kĩ năng giải toán của các em dễ bị thui chột”.
Còn ở môn Ngữ văn, nhiều kinh nghiệm được đúc kết: Sử dụng ở mức độ cần và đủ tránh lạm dụng ở các giờ dạy văn bản (giới thiệu tranh chân dung tác giả, hình ảnh tác phẩm, đoạn băng minh họa, sơ đồ tư duy…), dạy lí thuyết Tiếng Việt, Tập làm văn (đưa ngữ liệu cho HS tìm hiểu qui nạp kiến thức, đưa nội dung luyện tập) và phát huy tối đa ở các giờ dạy Ôn tập (cần hệ thống sơ đồ, bảng  biểu).
      Trong máy bàn, máy tính xách tay tự mua sắm của mỗi thầy cô đã mang biết bao niềm đam mê với nghề với CNTT ở từng trang giáo án từ giờ  lên lớp.

Thầy Ka Viết  Hoàng  tập huấn CNTT cho  đội ngũ giáo viên trường 

Các thầy cô  rất hào hứng và tập trụng trong công việc tập huấn CNTT tại trường 

Khát khao cái mới, hướng tới tương lai

     Thật phiến diện nếu chỉ đánh giá kết quả việc UDCNTT trong dạy học của Phú Ninh  qua  những con số ngày càng tăng: Lên lớp, phong trào mũi nhọn hay thi vào trường chuyên. Bởi  cái chính là nó đã thể hiện sự nỗ lực  vươn lên không ngừng của sự nghiệp giáo dục ở một vùng quê còn lắm những lo toan, phát huy hết những khả năng tiềm tàng của những kĩ sư trồng người ở mọi hoàn cảnh, nhiệm vụ, mọi độ tuổi và góp phần vào việc  đào tạo lớp trẻ năng động, sáng tạo có khả năng làm chủ cuộc sống trong thời đại công nghệ, khoa học, tri thức.      
     Bước vào năm học 2013 - 2014, sau khi cán bộ quản lí cùng đội ngũ GV cốt cán THCS của huyện được thầy giáo Lương Mạnh Kha - rất nhiệt tình và giỏi chuyên môn - tập huấn về nội dung: UDCNTT trong quản lí  trường học, các trường trong huyện đều tổ chức tập huấn lại.
Thế là, ai ai cũng hào hứng khi được biết thêm về  việc lập nhóm gmail,  lập kế hoạch dạy học trên google lịch, sử dụng Google drive lưu trữ và chuyển tải tài liệu làm phiếu khảo  sát đa chiều, sử dụng  phần mềm thiết kế sơ đồ tư duy mới  Mindjet Mind Manager rất hiện đại, tiện ích, thiết kế trò chơi ô chữ  ở phần mềm Olympia Crossword 4.0 tiện dụng nhất...
        Đi đầu là THCS Nguyễn Hiền, BGH trường chỉ đạo GV dạy các lớp chất lượng cao ứng dụng “cái mới” ngay bằng việc sử dụng Google drive làm phiếu khảo sát điều tra nắm bắt tình hình học tập bộ môn để có những  hướng  điều chỉnh dạy học thích hợp.
      Các thầy cô dạy Ngữ văn thiết kế sơ đồ tư duy từ  phần mềm Mindjet MindManager để bồi dưỡng HS giỏi hiệu quả hơn. Từ thầy truyền cho  trò, học sinh cũng tự thiết kế được các trò chơi ô chữ  nhanh chóng chỉ trong vòng vài phút để tổ chức các tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp hào hứng sôi nổi. 

     Việc UDCNTT vào dạy học ở một vùng nông thôn Phú Ninh còn nhiều khó khăn cần  khắc phục nhưng với sự nỗ lực cố gắng của các cấp lãnh đạo của mỗi thầy cô giáo, trong tương lại gần, chắc chắn việc UDCNTT trong nhà trường THCS sẽ nâng lên một bước mới về lượng lẫn chất – đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp trồng người.

N T B T