Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

315/ BẢN TÌNH CA MÙA XUÂN -BÀI THUYẾT TRÌNH CẮM HOA

         Bài dự thi đạt giải nhất  hội thi Cắm hoa nghệ thuật do Liên đoàn lao động huyện Phú Ninh tổ chức. Cô Huỳnh thị Hồng Vi trình bày        

 






         Kính thưa quí ban giám khảo
         Kính thưa quí vị đại biểu khách mời
         Kính thưa quí chị em
         Mùa xuân- mùa của sự sống và tình yêu đang đọng lại trên những sắc màu của muôn loài hoa. Hoa đem đến cái đẹp cho thiên nhiên đất trời và  tượng trưng cho vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống. Những cung bậc cảm xúc từ mùa xuân từ hoa, từ cuộcc sống đã được gửi gắm vào trong tác phẩm cắm hoa nghệ thuật với chủ đề: Bản tình ca mùa xuân mà chị em đơn vị Ngành giáo dục Phú Ninh  gửi đến hội thi.      
           Kính thưa quý vị
          Ca từ và giai điệu làm nên những bản nhạc cũng như  những chất liệu màu  làm nên những tác phẩm hội họa. Thế nhưng trong nhạc có thơ, trong thơ cũng có họa thì phải chăng trong sắc hoa cũng có thể có giai điệu khúc tình ca?
         Và đây bình hoa với chủ đề: Bản tình ca mùa xuân ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất của người Phụ nữ Việt Nam nói chung và của người Phụ nữ Phú Ninh nói riêng  gồm ba mảng chính:
           - Mảng 1 mang tên: Khúc ru thầm lặng
           - Mảng 2:  Nốt trầm xao xuyến
           - Mảng 3:   Khát vọng tình ca
          Đây là Mảng thứ nhất. Hoa Hồng tượng trưng cho  vẻ đẹp người phụ nữ được cắm chính– những đóa hồng  đỏ  thắm, vàng tươi được cắm theo hình chiếc vành nôi và cánh buồm.            
           Vành  nôi ấm áp lời ru của mẹ cho con giấc ngủ đầu nôi để con  khôn lớn. Cánh buồm nhuộm nắng vàng gợi liên tưởng về con thuyền tình yêu. Người Phụ nữ bao giờ cũng âm thầm lặng lẽ với nắng mưa như người lái đò cần mẫn vì  tổ ấm gia đình.  Những cánh hoa sa lem màu trắng cùng hoa chấm bi  trắng tím đơn sơ vừa tôn lên vẻ đẹp rực rỡ của hoa chính vừa tượng trưng cho vẻ đẹp dịu dàng, hiền thục, của chị em. Lá mộc lan sắc xanh pha vàng được uốn cong làm phần đế cho bình hoa tạo lên nét mềm mại quyến rũ và cũng là tượng trưng cho vòng tay mềm mại – từ bàn tay đảm đang - siêng năng, chịu thương, chịu khó, lo toan việc nhà  để xây dựng gia đình no ấm,hạnh phúc.Và như cánh cò lặng lẽ như vành nón trắng mỏng manh  mà sao ẩn chưa sức mạnh diệu  kì để người phụ nữ là linh hồn của gia đình.
               Nữ sĩ  Xuân Qùynh có câu thơ
                     Chúng tôi chỉ có chậu,có nồi, có lửa
                      Có tình yêu và có lời ru
             Phải chăng Tình yêu và lời ru mãi là niềm hạnh phúc của người phụ nữ.                      Khúc ru thầm lặng là khúc hát dạo đầu êm ái để tạo nên những điệu nhạc ở mảng thứ hai: Nốt trầm xao xuyến được cắm phối màu tương phản nhưng rất hài hòa giữa hai sắc hoa: hoa hồng nhunghoa ly vàng. Hoa hồng được cắm theo hình bàn tay xòe ra  vươn cao biểu tượng cho sự giỏi giang thích ứng với mọi công việc trong xã hội hiện đại.
           Hai đóa ly vàng tượng trưng cho những thành quả sáng tạo trong công việc cơ quan, đơn vị . Hoa sa lem nhỏ màu  trắng vừa  tôn vẻ đẹp của hoa hồng vừa biểu tượng cho đức tính khiêm nhường, giản dị, lối sống lành mạnh, thanh cao của chị em dẫu xã hội hiện đại còn lắm xô bồ và cám dỗ. Những chiếc lá lan mềm cắm lót  tạo  nên vẻ đẹp hài hòa cân đối tôn vẻ đẹp của hoa ly  biểu tượng cho vòng tay thân ái yêu thương đoàn kết – một phẩm chất tốt đẹp của chị em trong tình làng nghĩa xóm tình đồng nghiệp, đồng chí.  
          Những sắc hoa đã làm nên một góc xuân nho nhỏ. Tất cả không muốn phô trương mà chỉ muốn đọng lại bằng hình ảnh cành dừa cảnh được uốn cong tựa nốt nhạc. Và cũng như nhà thơ Thanh Hải, chị  em  muốn làm Một “góc” xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời và làm một nốt nhạc trầm xao xuyến trong bản hòa ca chung của xuân quê hương đất nước.  
            Trong lời ru và nốt nhạc trầm lắng ấy ẩn chứa tâm hồn dịu dàng mà cháy bỏng tình yêu cuộc đời  để mảng thứ ba mang tên: Khát vọng tình ca. Sắc vàng của hoa ly được cắm làm điểm nhấn tượng trưng cho những thành quả huy hoàng khởi sắc trên quê hương Phú Ninh sau chín năm tách huyện và đất nước ta trong xuân mới. Những chiếc lá vạn tuếcành lan được uốn cong tạo thành đường nét  của một cuộc sống  đang vươn tầm cao mới. Vẻ đẹp ấy có sự góp phần không nhỏ của chị em. Và đây những cánh hoa chấm bi đơn sơ, lá lan mộc mạc và  sa lem vàng  dễ thương  – tất cả  là vẻ đẹp tâm hồn, tình cảm dịu dàng  đằm thắm, khát vọng  yêu người,yêu đời của chị em.
            Nếu mảng 1 có khuôn nhạc thì mảng 2, 3 có hình nốt nhạc, tất cả kết nối ba mảng hoa tạo nên chỉnh thể mang ý nghĩa tượng trưng cho Bản tình ca mùa xuân
            Ôi mùa xuân, mùa của tình yêu và khát vọng. Chị  em chúng ta hãy cất lên những giai điệu  trữ  tình nhất  để ngợi ca cuộc sống. Và mong rằng  Bản tình ca mùa xuân  mang sắc màu của những loài hoa dẫu  tạm dừng  nhưng giai điệu đẹp đẽ của nó cùng  những thông điệp về về tình yêu con người, tình yêu cuộc sống sẽ vẫn mãi như một dòng suối chảy vào lòng người .                 
               Kính thưa quí vị
             Đơn vị chúng tôi xin được thay lời kết cho bài thuyết trình bình hoa bằng lời thơ của Huy Cận
                      Chị em tôi tỏa nắng vàng lịch sử.
                      Nắng cho đời nên nắng cũng cho thơ.     

          Lời cuối cùng thay mặt cho Nữ công đơn vị ngành giáo dục Phú Ninh tôi xin kính gửi đến quí vị đại biểu lời chúc sức khỏe hạnh phúc chúc chị em mãi đẹp như hoa, ngọt ngào như bản tình ca. Chúc hội thi thành công tốt đẹp. Tôi xin trân trọng kính chào.           

                         
        Nguyễn Thị Bích Trâm

314/ Ngày Xuân, đọc Hoàng Lê nhất thống chí


Hoàng Minh Tường 
Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái, là cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của văn học Việt Nam trung đại. Tác phẩm bắt đầu từ thời chúa Trịnh Sâm lấy Đặng Thị Huệ (1767) và kết thúc vào năm vua Gia Long lên ngôi (1802). Hơn ba mươi năm, một không khí đậm đặc chất tiểu thuyết với hàng trăm nhân vật và sự kiện động trời.
Các tác giả dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai, tục gọi là làng Tó, nay thuộc Thanh Trì, Hà Nội, kết thúc thiên tiểu thuyết ở hồi thứ 17:
Mất thành Thăng Long vua Cảnh Thịnh bị bắt
Táng lăng Bàn Thạch Nguyễn Hoàng phi chết theo.



Cuối hồi này có sự kiện đáng chú ý: “Năm Quí Hợi (1803), năm thứ tám niên hiệu Gia Khánh nhà Thanh, tức là năm thứ hai niên hiệu Gia Long ở nước ta, lúc đó đã dẹp xong quân Tây Sơn, nhà Nguyễn bèn sai sứ thần sang nhà Thanh dâng biểu trần tình và xin phong vương. Các bầy tôi cũ của nhà Lê nghe tin, liền làm tờ biểu trình với quan nội các, xin đem linh cữu của vua cũ và thái mẫu về nước an táng.” (tr 488 - HLNTC, Nxb Kim Đồng, 2006).
Năm 1804, vua Gia Long đã cho an táng vua và gia quyến Lê Chiêu Thống như “những người yêu nước” (!) cạnh lăng vua Lê Hiển Tông trên núi Bàn Thạch, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Việc làm này của ông vua khai mở triều Nguyễn, âu cũng dễ hiểu, bởi kẻ thù của kẻ thù chính là bạn ta, mà. Đến năm thứ 14 đời vua Tự Đức (1860), triều Nguyễn còn “vâng chỉ dụ của nhà vua, cho lập đền thờ các bề tôi đi trốn theo vua Lê, ở phía tây thành Thăng Long, tại phường Thụy Chương, huyện Vĩnh Thuận” (tr 482).
“Các bề tôi đi trốn theo vua Lê” bao gồm 33 người, gọi là “Cố Lê tiết nghĩa thần” (các bầy tôi tiết nghĩa đời Lê ), đứng đầu là Lê Quýnh. Đền thờ có tên gọi “Cố Lê tiết nghĩa từ” ( đền thờ các bậc tiết nghĩa đời Lê). Đây quả là một sự vinh danh ngược, vinh danh bọn vua quan phản quốc, mà có lẽ đền thờ này là trường hợp hiếm hoi trong lịch sử nước Việt(!)
Hầu như rất ít người Hà Nội, biết đền “Cố Lê”. Lục tìm mãi các tài liệu, tôi mới biết ngôi đền này hiện nằm ở cuối ngõ 124, phố Thụy Khuê, gần với con đường quanh hồ Tây. Thời Lê là phường Thụy Chương, huyện Vĩnh Thuận. Có lẽ vào những năm cuối thế kỷ 19, khuôn viên của đền khá rộng rãi, ăn thông từ gần đường Thụy Khuê tới mép Hồ Tây. Nhưng rồi thế gian biến cải, lòng dân quên lãng, nhà dân lấn chiếm, bây giờ chỉ còn cổng đền, gốc đa cổ thụ và một am thờ nằm trên diện tích 167 mét vuông,  hiện đã gần như phế tích, và đang là địa điểm tranh chấp với một hợp tác xã thủ công. Quả đúng như câu ca xưa: Yêu dân dân lập đền thờ/ Hại dân dân đái ngập mồ cho coi. Các vị “Cố Lê” này, trong mắt dân quanh vùng Thụy Khuê chẳng phải “thần”, cũng chẳng “tiết nghĩa” gì. Họ không phá đền vì sợ khuôn phép triều đình nhà Nguyễn. Đền không thiêng trong lòng dân thì phỏng có ý nghĩa gì?
Lê Chiêu Thống là ai? Lê Quýnh là ai? Sách Hoàng Lê nhất thống chí chép đủ cả.
Đây là hành tung của Lê Chiêu Thống khi Tôn Sĩ Nghị kéo quân sang xâm lược:
“Trước đó vua Lê đang lẩn lút ở Kinh Bắc, Lạng Sơn, nghe tin Tôn Sĩ Nghị đưa hịch sang nước Nam và hẹn ngày đến cửa ải, nhà vua bèn bí mật sai người đi gọi nghĩa sĩ bốn phương. Các quan văn võ nghe tin, cũng đều khuyên bảo hào mục các địa phương, nhóm họp hương binh để chờ đợi.
Rồi đó, vua sai Lê Duy Đản đem thư lên cửa ải, để yết kiến Tôn Sĩ Nghị, bẩm rõ tình hình trong nước với Nghị…
Vua lại truyền phải sức cho các kỳ lão và các xã dân mấy huyện ven đường, phải sửa soạn đón rước quân Thanh.” (tr 416)
Và tiếp theo :
“Lúc Nghị tới trấn Kinh Bắc, vua Lê tự đem các quan đến chào… Vua Lê nói: “Đội ơn đại hoàng đế, đức cả như trời, không sao hình dung được cho hết. Lại nhờ cụ lớn hạ mình đến đây, khiến cho nước chúng tôi được thấy ánh sáng của áo cừu, đai ngọc, được thỏa lòng ngửa trông sao Bắc Đẩu, núi Thái Sơn. Mối tình vui mừng, kính mến, không sao kể xiết...
Hôm sau, vua thân hành đến chờ đón ở doanh của Nghị. Nghị sai người bày biện nghi trượng rất long trọng ở điện Kính Thiên, rồi truyền cho trăm quan tới hầu. Vua Lê đội mũ miện, mặc áo cổn quỳ ở giữa sân. Nghị dẫn bọn liêu thuộc đến, rồi tuyên đọc tờ sắc của Hoàng đế nhà Thanh phong cho vua Lê làm An Nam quốc vương…” (tr 420).
“Tuy vua Lê đã được phong vương, nhưng giấy tờ đưa đi các nơi, đều dùng niên hiệu Càn Long. Vì có Nghị ở đấy nên không dám dùng niên hiệu Chiêu Thống. Ngày ngày sau các buổi chầu, vua lại tới chờ ở doanh của Nghị để nghe truyền việc quân việc nước. Vua cưỡi ngựa đi trước, Lê Quýnh cưỡi ngựa đi sau, quân lính hộ vệ chỉ vài chục người. Người trong kinh có kẻ không biết là vua. Hoặc có người biết thì họ nói riêng với nhau rằng: “Nước Nam ta từ khi có đế, có vương tới nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế. Tiếng là làm vua, nhưng niên hiệu thì viết là Càn Long, việc gì cũng do viên tổng đốc, có khác gì phụ thuộc vào Trung Quốc.” (tr 420)
Còn đây là chân dung Lê Quýnh:
“Lê Quýnh là người làng Đại Mão, huyện Siêu Loại, vốn là một tay phong lưu công tử, con trai của tiến sỹ triều Lê là Lê Doãn Giản. Khi tuổi trẻ, Quýnh chỉ biết uống rượu, đánh bạc, việc văn võ đều chưa hề luyện tập qua. Trước vì là con nhà quí tộc thân cận, nên được làm gia thần nhà vua. Đến khi quân Tây Sơn tới xâm lấn, kinh thành thất thủ, Quýnh vâng mệnh vua theo hầu Thái hậu lên Cao Bằng, rồi bị quân giặc đuổi bắt, phải chạy sang Trung Quốc. Vì Quýnh hơi biết chữ nghĩa, cho nên khi chuyện trò với người Thanh thường bịa ra nhiều câu khoác lác. Tôn Sĩ Nghị cũng không xét đến chỗ đó, đem lời tâu lên, vua Thanh ưng thuận. Thế rồi may được khôi phục lại nước nhà, Quýnh tự cho là công lao của mình. Sau khi về thành Thăng Long, Quýnh chỉ lo đền ơn trả oán và công nhiên ăn của đút lót…”
Vua ấy, thần ấy, cộng với bọn Tôn Sĩ Nghị vốn dã tâm cướp nước, lại ngông ngạo, chủ quan, nên ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân, 1788, sau khi nhận tin cấp báo, Bắc Bình vương Nguyễn Huệ đã làm lễ đăng quang lên ngôi Quang Trung Hoàng đế, và phát lệnh xuất quân từ Phú Xuân ra bắc tiễu phạt quân Thanh.
“Vua Quang Trung tự mình đốc xuất đại binh. Ngày 29 đến Nghệ An…” (tr 434).
 Bốn ngày từ Phú Xuân đến Nghệ An. Mỗi ngày đi sáu mươi cây số. Một tốc độ thần kỳ. Tại Nghệ An, sau khi hội đàm với La sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, “Vua Quang Trung mừng lắm, liền sai đại tướng là Hám hổ hầu kén lính ở Nghệ An, cứ ba suất đinh thì lấy một người, chưa mấy lúc đã được hơn một vạn quân tinh nhuệ. Rồi nhà vua mở cuộc duyệt binh lớn ở doanh trấn, đem số quân ở Thuận Hóa, Quảng Nam chia làm bốn doanh tiền, hậu, tả, hữu, còn số lính mới tuyển ở Nghệ An thì làm trung quân.” (tr 435)
Ngay hôm sau, đại quân đến Tam Điệp. Sau khi gặp các tướng Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, các quân sư Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích, “Vua Quang Trung bèn mở tiệc khao quân, chia quân sĩ ra làm năm đạo, hôm đó là ngày 30 tháng chạp. Rồi nhà vua bảo kín với các tướng rằng: “Ta với các ngươi hãy tạm sửa lễ cúng Tết trước đã. Đến tối 30 Tết lập tức lên đường, hẹn đến ngày mùng 7 năm mới thì vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Các ngươi nhớ lấy, đừng cho là ta nói khoác” (tr 438)
Quả là một thiên tài quân sự, vừa thần tốc hành tiến với tốc độ huyền thoại, vừa thâu nạp quân sĩ, tổ chức chiến đấu. Và thật bất ngờ, từ Tam Điệp tới Thăng Long hơn trăm cây số, mà chỉ ba ngày thần tốc, “Nửa đêm ngày 3 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789) vua Quang Trung tới làng Hà Hồi, huyện Thượng Phúc, lặng lẽ vây kín làng ấy, rồi bắc loa truyền gọi, tiếng quân lính luân phiên nhau dạ ran để hưởng ứng, nghe như có hơn vài vạn người. Trong đồn lúc ấy mới biết, ai nấy rụng rời sợ hãi, liền xin ra hàng, lương thực khí giới đều bị quân Nam lấy hết.” (tr 439).
 “Vua Quang Trung cưỡi voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mồng 5 tiến sát đồn Ngọc Hồi…” (tr 440)
“Quân Thanh chống không nổi, bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết. Tên Thái thú Điền Châu là Sầm Nghi Đống tự thắt cổ chết. (tr 440)
Sách không nói địa điểm Sầm Nghi Đống chết, nhưng dân gian sau này cho biết ta chôn chung quân tướng giặc Thanh một hố, rồi đắp thành gò, tức gò Đống Đa bây giờ.
Còn chủ soái giặc, Tôn Sỹ Nghị khi ấy thì sao?
“Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp, dẫn bọn lính kỵ mã của mình chuồn trước qua cầu phao rồi nhằm hướng bắc mà chạy. Quân sĩ các doanh nghe tin, đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều. Lát sau cầu lại bị đứt, quân lính đều rơi xuống nước, đến nỗi nước sông Nhĩ Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa” (tr 442).
“Giữa trưa hôm ấy vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo đại quân vào thành, chiếc chiến bào màu đỏ của nhà vua đã bị nhuộm đen vì khói thuốc súng” (tr 441).
Những trang văn thật hào sảng, cuồn cuộn như bão lốc theo nhịp thần tốc của đoàn quân bách thắng.
Và đây, lại hình ảnh của vua quan bán nước:
“Vua Lê (Chiêu Thống) ở trong điện, nghe tin có việc biến ấy, vội vã cùng bọn Lê Quýnh, Trịnh Hiến đưa Thái hậu ra ngoài. Cả bọn chạy đến bến sông thì thấy cầu phao đã đứt, thuyền bè cũng không, bèn gấp rút chạy đến Nghi Tàm, thình lình gặp được chiếc thuyền đánh cá, vội cướp lấy rồi chạy sang bờ bắc…” (tr 443).
Những trang văn như những thước phim quay nhanh, ống kính lúc cận cảnh, lúc toàn cảnh, lúc đặc tả, khi càn lướt, vô cùng sống động. Ước gì điện ảnh nước nhà phục dựng lại được những ngày Tết năm Kỷ Dậu ấy. Và nhất định nhà đạo diễn phải có cảnh Quang Trung Nguyễn Huệ, chưa kịp cởi áo chiến bào màu đỏ bị nhuộm đen vì khói súng, đã sai quân phi ngựa trạm mang cành đào Thăng Long vào Phú Xuân báo tin vui cho nàng Ngọc Hân công chúa. Nước mã hồi này mang sức Xuân, âm vang Chiến thắng và tình yêu Thăng Long, chắc chỉ trong ba ngày, nàng Ngọc Hân đã có cả một Mùa Xuân tưng bừng. 



Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

313/ NHÀ THƠ NÓI VỀ THƠ

Thơ là sự thần thánh hóa thực tại” (Edith Sitwell), “Thơ là những gì đáng ghi nhớ trong cuộc sống” (William Hazlitt), “Thơ là ngôn ngữ chưng cất mạnh mẽ nhất của bản thân tác giả” (Rita Dove).

Ngoài những định nghĩa trên đây, nhiều cây bút thơ nổi tiếng khác cũng bày tỏ cách nhìn ấn tượng về thơ.


 Một trong những nhà thơ lớn nhất của thế kỷ XIX, người được gọi là “Shelley điên rồ” có một cuộc đời ngắn ngủi nhưng hết sức lãng mạn. Trong số 1821 bài viết của Shelley, nhiều lần, nhà thơ xuất thân quý tộc đã đề cập tới cái nhìn đối với thơ ca. Trong đó, nổi bật nhất là nhữngnhận định sau:


“Thơ thực sự là một điều gì đó rất thiêng liêng. Nó vừa là trung tâm, đồng thời là chu vi của tri thức, là bao gồm các khoa học, nguồn gốc và thành quả của các hệ thống tư tưởng. Đó là sự hồi sinh của mùa xuân…”


“Thơ ghi lại những khoảnh khắc đỉnh cao và hạnh phúc nhất của tâm hồn”.


“Thơ ca, trong ý thức chung có thể định nghĩa là biểu hiện của trí tưởng tượng, và thơ ca cũng là khả năng thiên bẩm khi con người sinh ra”.


“Thơ ca là một tấm gương có thể khiến cái đẹp cũng có thể bị biến dạng”.


Cùng với Walt Whitman, Emily Dickinson là cây bút thơ đặc sắc nhất của Mỹ thế kỉ XIX.  Bà đã để lại cho hậu thế tới 2000 bài thơ với nhiều bài có ý tưởng hết sức độc đáo. Trong quan điểm về thơ ca, bà cũng có cách nhìn rất ấn tượng: “Nếu một cuốn sách làm cho tôi cảm thấy giá lạnh mà không một ngọn lửa nào có thể sưởi ấm, tôi biết đó là thơ. Nếu tôi cảm thấy mình đang cất cánh, tôi cũng biết đó là thơ. Đó là cách duy nhất để tôi biết những điều này, liệu còn cách nào khác nữa không?”



Robert Frost là một nhà thơ Mỹ từng bốn lần đoạt giải Pulitzer, cũng là cây bút thơ từng vinh dự được Tổng thống John F. Kennedy mời đọc thơ  trong ngày nhậm chức của ông. Được các nhà phê bình hiện đại nhận định là một nhà thơ dễ hiểu mà vẫn khó hiểu, giản dị mà phức tạp, cách Robert Frost nghĩ về thể loại văn học ông theo đuổi cũng có phần kỳ bí: “Thơ ra đời khi cảm xúc đã tìm thấy suy nghĩ của mình và suy nghĩ thì đã tìm ra lời để diễn đạt chúng”; “Thơ ca là những gì đã thất lạc trong quá trình chuyển đổi”.


Salvatore Quasimodo nhấn mạnh sự đồng cảm giữa người làm thơ và độc giả


Nhà thơ người Italia, Salvatore Quasimodo nổi tiếng nhờ những vần thơ trữ tình với ngôn ngữ tinh lọc và đẹp đẽ một cách chuẩn mực. Ông nói: “Thơ là sự mặc khải rằng người làm thơ tin rằng cảm xúc của họ chính là tiếng lòng của độc giả”. 


Edgar Allan Poe được gọi là “nhà thơ điên” cũng là một cây bút kỳ tài trong thể loại văn chương trinh thám và hình sự. Ông là tác giả của những phát ngôn nổi tiếng như: “Nỗi buồn là giọng điệu phù hợp nhất của thơ ca” ; “Tôi định nghĩa rất ngắn về thơ ca, ngôn ngữ thơ là nhịp điệu thẫm mỹ. Trọng tài duy nhất của chúng là khẩu vị. Trí khôn và nhận thức chỉ khiến nó trở thành một tài sản. Trừ yếu tố tình cờ, thơ không quan tâm tới bất cứ điều gì, dù là nghĩa vụ hay chân lý”.

Với Mary Oliver, thơ là một cách sống


Từng là thư ký cho nhà thơ Edna St. Vincent Millay, Mary Oliver đã vươn lên trở thành một cây bút thơ ăn khách, nhất là về đề tài thiên nhiên, giành được giải thưởng sách quốc gia và giải thưởng Pulitzer. Với công việc của mình, Mary Oliver vô cùng nghiêm túc và rõ ràng. “Thơ không phải là một nghề, đó là một cách sống. Nó là một chiếc giỏ không, bạn đặt cuộc sống của mình vào đó và khiến một cái gì đó ra đời từ đó”. 


Với T.S. Eliot, chỉ những người có cá tính và cảm xúc mạnh mẽ mới có thể làm thơ

T.S. Eliot, chủ nhân giải Nobel 1948 cũng là nhà thơ vĩ đại của nước Anh thế kỷ 20. Sinh thời, ông từng nói: “Thơ không phải là một vòng quay chậm rãi của cảm xúc mà là một lối thoát của cảm xúc, không phải là sự biểu hiện của tính cách, nhưng một lối thoát cho cá tính. Nhưng, tất nhiên là chỉ những người có cá tính và cảm xúc biết ý nghĩa của việc muốn thoát khỏi những điều này.”


William Wordsworth

312/CẢM NHẬN VỀ SỰ KỲ DIỆU CỦA ÂM NHẠC TRONG CUỘC SỐNG



                                                              GV. Nguyễn Thị Thu Hằng
                                                              Khoa Tại chức & ĐTLK

Nếu nói rằng ngôn ngữ tách rời loài người ra khỏi những động vật khác thì âm nhạc chính là cái nôi của ngôn ngữ và mãi mãi là một thứ ngôn ngữ chung của toàn nhân loại. Các nhà nghiên cứu cho thấy đứa trẻ ngay từ trong bào thai  được nghe âm nhạc thì  tần số sẽ rộng hơn của giọng nói vì nên sự tiếp xúc âm thanh gần hơn, cường độ, âm sắc của ca từ và giai điệu giúp thai nhi kích thích não bộ, cảm xúc trí tuệ được phát triển ngay trong bụng mẹ nếu được nghe nhạc đúng cách. Có câu nói: “Hãy mang lại cho bé niềm yêu thương ngọt ngào từ những giai điệu bất hủ biết đâu bạn sẽ có một thiên tài trong tương lai” âm nhạc đã làm cho trí não đứa trẻ phát triển thông minh hơn khi nghe những bản giao hưởng, sonate của nhạc sỹ thiên tài Betthoven, hay trẻ sẽ tăng cân nặng hơn khi nghe nhạc của nhạc sỹ thần đồng Mozat,và êm ái trong  những tổ khúc của Sube, những Romance,noctuyec của Traikopxki…

311/ VAI TRÒ CỦA ÂM NHẠC TRONG CUỘC SỐNG

Âm nhạc là một bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Âm nhạc có thể chia sẻ với chúng ta rất nhiều điều: Giải quyết những khó khăn trong cuộc sống, vơi đi những hờn giận vu vơ, đưa người về dĩ vãng, tìm lại tuổi thơ yêu dấu, nghe lòng bồi hồi, xao xuyến với tình yêu quê mẹ, với nắng ấm quê cha, sống dậy lòng tự hào dân tộc, khát vọng tìm về chân lý… Ngay từ thời thượng cổ, âm nhạc đã được ra đời cùng với đời sống sinh hoạt và lao động sản xuất của các cộng đồng người nguyên thuỷ. Kể từ đấy, âm nhạc đã không ngừng được phát triển và hoàn thiện cùng năm tháng. Quả thật, âm nhạc có sức ảnh hưởng lớn đến con người, đến sự hình thành và phát triển nhân cách nơi mỗi người.

Như các loại hình nghệ thuật khác, nội dung âm nhạc cũng phản ánh hiện thực của cuộc sống. Bằng nét đặc thù riêng của mình, âm nhạc đã phản ánh hiện thực cuộc sống một cách ước lệ và trừu tượng. Âm nhạc mô tả các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống. Âm nhạc còn có thể thể hiện quan điểm sống, chuyển tải tư tưởng. Còn một phần rất quan trọng trong nội dung của âm nhạc là sự đánh giá thực tại trên quan điểm của Mỹ học, có nghĩa là đánh giá các sự vật, hiện tượng nhưng không phụ thuộc vào cách nhìn nhận thực tiễn, thực dụng về đối tượng ấy. Vĩ dụ khi ngắm nhìn cảnh mặt trời mọc, chúng ta thích ngắm nhìn nó vì nó đẹp chứ hoàn toàn không có ý nghĩ là mặt trời sẽ cung cấp năng lượng cho chúng ta, mặt trời sẽ sưởi ấm cho ta,… Có thể nói rằng, cách đánh giá trên quan điểm Mỹ học là một cách đánh giá “vô tư”.


Đấy là những nội dung mà âm nhạc có thể chuyển tải. Và nội dung của âm nhạc có tính bất định. Tùy theo khả năng và đặc điểm tâm lý, quan điểm, sở thích, kinh nghiệm sống, trình độ văn hóa… của mỗi người mà ở họ có sự cảm nhận khác nhau về nội dung của cùng một bản nhạc.

Với sự phối hợp nhuần nhuyễn, hài hoà giữa ca từ, nhịp điệu, tiết tấu bản nhạc, âm nhạc đã tác động lớn đến người nghe. Dù rằng sự cảm thụ âm nhạc ở mỗi người là khác nhau và có thể rất đa dạng. Nhưng chúng vẫn nằm trong một ranh giới nhất định và vẫn có những điểm chung nhất định. Điểm chung ấy dựa vào sức tác động của âm nhạc đối với con người.

Trước hết, âm nhạc tác động lên phương diện sinh lý của con người. Sự tác động này hầu như ai cũng nhận thấy được. Bằng công trình nghiên cứu của mình, hai nhà sinh học người Nga, I.M.Đô ghen và I.R.Tackhanốp đã chứng minh rằng, Âm nhạc có ảnh hưởng đến hệ hô hấp, hệ tuần hoàn và đến những khía cạnh khác trong cơ thể người. Âm nhạc có thể khiến cho người nghe cảm thấy dễ chịu, cảm thấy nhẹ nhàng, thư thái. Và âm nhạc cũng có thể làm cho người nghe cảm thấy mệt mõi, rã rời hay căng thẳng, khó chịu. Chính vì thế mà âm nhạc có ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất lao động. Ngày trước, nhờ những câu hò ý vị, vui tươi trong khi gặt hái, trong khi giả gạo, trong khi cấy cày, tát nước,… người lao động đã quên đi sự mệt nhọc, vất vả và hăng say hơn trong công việc. Ngày nay, trong các nhà máy, xí nghiệp, nếu biết sử dụng âm nhạc một cách khoa học thì năng suất lao động sẽ được nâng cao.

Không chỉ có thế, âm nhạc còn tác động đến cảm xúc và tư tưởng của con người. Âm nhạc, nếu được cảm thụ một cách sâu sắc và thông minh thì sẽ tác động đến thế giới quan, đến toàn bộ ý thức của con người. Tác động trực tiếp, mạnh mẽ nhất của âm nhạc đối với con người là trong lĩnh vực tình cảm và tâm trạng của con người. Không một loại hình nghệ thuật nào khác ngoài âm nhạc lại có thể tác động với một uy lực như thế vào thế giới cảm xúc của con người.

Sở dĩ âm nhạc có được sức ảnh hưởng lớn bởi vì âm nhạc là một loại hình nghệ thuật có tính biểu hiện. Ngôn ngữ của nó giống với ngữ điệu của tiếng nói và giống với cử chỉ, nghĩa là giống với phương tiện biểu hiện của cảm xúc. Chính sự khái quát hoá và tăng lên gấp nhiều lần những khả năng biểu hiện của ngữ điệu và tiết tấu, âm nhạc đã có được một sức mạnh tác động vào cảm xúc thật lớn lao. Hơn nữa, trong tác phẩm âm nhạc còn miêu tả những điều mà chúng ta thích thú và quan tâm trong thực tiễn. Âm nhạc có sự tái hiện những âm thanh đầy sức hấp dẫn của thiên nhiên, thể hiện những cảm xúc dễ chịu và đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của chúng ta.

Có một vai trò của âm nhạc mà không ai có thể phủ nhận được, đó là sự tham gia và hỗ trợ trong các dịp lễ hội và giải trí cộng đồng, trong sự chuyển động của tập thể (diễu hành), dùng làm phương tiện để nghỉ ngơi, giải trí.

Chính vì âm nhạc tác động lên mặt xúc cảm và tư tưởng nên âm nhạc đóng vai trò không kém phần quan trọng trong việc giáo dục con người, nhất là thế hệ trẻ. Có thể thông qua âm nhạc để giáo dục tư tưởng, đạo đức cho người nghe. Những nhân vật tích cực, những tấm gương đạo đức cao cả và cả hình tượng những con người bị dày vò bởi sự đấu tranh nội tâm khổ sở, những con người sống dằn vặt và không thoả mãn được đề cập đến trong bản nhạc đã ảnh hưởng đến tình cảm đạo đức của người nghe, nâng người nghe lên một tầm cao bao la về đạo đức. Những tác phẩm âm nhạc diễn tả những tư tưởng, tình cảm đạo đức cao đẹp như tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào dân tộc, tình bạn, tình yêu, tình huynh đệ, tình phụ tử, tình mẫu tử,… luôn đóng một vai trò giáo dục đặc biệt có ý nghĩa. Âm nhạc đã đánh thức lương tâm, thức tỉnh một sự bồn chồn cao quí, một nỗi niềm lo lắng thiêng liêng: Mình đã làm được điều tốt đó chưa? Mình đã sống tốt chưa? Mình có xứng với cái đẹp ấy không? Liệu mình còn đủ sức để hoàn thiện bản thân hơn nữa không?… Những điều ấy tạo nên nội lực thúc đẩy người nghe vươn tới sự toàn thiện, toàn mỹ.
Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, có những loại âm nhạc có thể tác động tiêu cực đến con người. Những ca khúc trữ tình chứa đựng những tình cảm không lành mạnh, sướt mướt hay suồng sã, nó có thể tác hại lớn đến đạo đức con người. Nó là kẻ đưa đường nhẹ nhàng nhất cho sự băng hoại đạo đức, suy sụp về tinh thần. Có những bản chạc mà khi nghe nó thì người nghe cảm thấy buồn rã rượi, chán nãn, yếu đuối, nhu nhược,… Và cũng có những bản nhạc làm cho người nghe phấn khích quá độ, trở nên cuồng nhiệt, không làm chủ được hành vi của mình, dẫn đến những hành động sai trái.

Vì âm nhạc có sức ảnh hưởng lớn như thế cho nên các bậc phụ huynh, những người làm công tác giáo dục cần phải lưu tâm nhiều hơn nữa về vấn đề này. Trong nhà trường, trong các sinh hoạt tập thể nên lựa chọn những loại âm nhạc có nội dung lành mạnh, phù hợp với lứa tuổi của các em để dạy cho các em, để cho các em nghe. Trong gia đình, các bậc phụ huynh nên khuyên nhũ và định hướng cho con em mình lựa chon âm nhạc để nghe, hướng dẫn cho các em biết cách cảm thụ âm nhạc. Cần tìm hiểu sở thích âm nhạc của các em trong giáo dục. Qua sở thích về âm nhạc của các em, chúng ta có thể biết được phần nào tính khí và phẩm chất đạo đức của các em.

Như vậy, âm nhạc có nhiều vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Nhưng các vai trò ấy chúng gắn bó chặt chẽ với nhau, nhiều khi chúng hoà quyện vào nhau, khó có thể phân định rạch ròi.

Cuộc sống mà không có âm nhạc thì cuộc sống sẽ trở nên rất tẻ nhạt và trầm lắng. Bàn về vai trò của âm nhạc đối với cuộc sống xã hội thì phong phú và sâu sắc vô cùng. Trong bài viết nhỏ này chưa thể diễn tả hết được cái hay, cái quý của nó. Để kết thúc bài viết của mình, người viết xin dẫn ra đây lời nói của Sô-xta-cô-vits: “Âm nhạc nâng con người lên, làm con người cao quí hơn, củng cố phẩm chất, củng cố niềm tin vào sức mạnh bên trong của bản thân, vào sứ mệnh lớn lao của mình”.



Minh Nguyên

310/ Ý nghĩa tục Lì Xì ngày Tết

Quanh chuyện "lì xì" ngày Tết bằng tiền và bằng... chữ! Nghe hai tiếng "lì xì" người ta liền tưởng tới bao giấy màu đỏ, nho nhỏ bằng phần tư trang giấy học trò, bên trong có xếp mấy tờ tiền mới. Vậy hai tiếng "lì xì" ở đâu ra? Nguồn gốc của nó thế nào? Chúng tôi lân la "tầm nguyên" qua các nhà nghiên cứu, hỏi trực tiếp bằng miệng có, giở sách vở các vị có, thấy giải thích hai chữ "lì xì" tựu trung là "tiền mừng tuổi".
Cuốn từ điển thời nay do Viện Ngôn ngữ học, Trung tâm Từ điển học chẳng hạn, mục từ lì xì giải thích: "Lì xì là mừng tuổi (bằng tiền). Tiền lì xì cho các cháu ngày mùng một Tết". "Lì xì" bằng tiền không chỉ giới hạn trong mùng một Tết, mà "liền tù tì" suốt ba ngày đầu năm, thậm chí kéo dài tận những ngày "mùng" cuối cùng của Tết như mùng 9, mùng 10. Theo một số vị mà chúng tôi hỏi chuyện, như cụ Nguyễn Quảng Tuân, Huỳnh Ngọc Trảng, Phạm Đan Quế, thì tục mừng tuổi vẫn cứ nên giữ. Nhà nghiên cứu Thông Hội bảo: "Đó là một phần đậm đà của phong vị Tết Việt Nam, đặc biệt đối với trẻ con, khiến trẻ nhớ tới Tết như một thời điểm mở đầu năm mới, đẹp như cổ tích". Với nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, tác giả Dư âm, cứ nên lì xì "miễn là đừng lì xì tiền đô cho trẻ, không đúng chỗ, mà tập hư cho chúng ăn xài". Vũ sư Hoài Nhơn (Trần Trinh Nhơn), con trai lớn của công tử Bạc Liêu (Trần Trinh Huy), thì kể rằng: "Ba tôi mất ngày 21 tháng chạp năm Quý Sửu 1973 ở Sài Gòn. Đầu năm đó, ăn cái Tết cuối cùng, ông còn lì xì tôi mặc dầu tôi đã 27 tuổi. Tôi vẫn không quên cái phong bì màu đỏ ấm áp, biểu lộ tình cảm của một người cha lúc nào cũng nhìn xuống con mình như thời còn nhỏ tại Bạc Liêu". Nhà nghiên cứu Cao Sơn giải thích: - Lì xì tiếng chữ là lợi thị, đọc theo âm Quảng Đông, Triều Châu thành "Lê - i - xị", chỉ số tiền được cho, tặng trong các dịp đầu năm, khai trương và cả trong lễ thành hôn nữa, chứ không bó hẹp trong dịp Tết Nguyên đán.

Lì xì nhằm cầu chúc người nhận gặp may mắn, phát đạt. Thường người Tàu bỏ tiền vào bao giấy màu đỏ. Người Việt Nam ta cũng làm tương tự, phổ biến ở miền Nam ngày Tết. Ở miền Trung thì ông bà cha mẹ, người tôn trưởng cho con cháu tiền mới vào dịp Tết gọi là "tiền mừng tuổi". Không chỉ người lớn mừng tuổi con cháu, mà hồi xưa, con cháu phải mừng tuổi ông bà trước. Qua giao thừa, tới sáng sớm mùng một, con cháu bảo nhau tới nhà thờ để chúc Tết và lạy mừng ông bà, cha mẹ. Không chỉ lạy suông, cũng không thể muốn lạy mấy lạy thì lạy, mà theo nhà văn Toan Ánh, chỉ lạy... hai lạy rưỡi. Lạy xong con cháu phải biết "thơm thảo" với đấng sinh thành bằng cách cung kính dâng lên những thứ bánh trái tươi ngon và một phong giấy hồng: Bên trong phong giấy thẳng thớm này có đặt một món tiền, để lên khay tươm tất và hoan hỷ, xin các cụ nhận cho, đó là "tiền mở hàng". Tiền này không nhằm để cất cho nặng hầu bao, mà ngụ ý cầu chúc các cụ quanh năm sung mãn, may mắn. Tục mừng tuổi nay còn đó. Ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì, cậu mợ lì xì lớp cháu, con. Bằng hữu thân quyến tới nhà ai chúc Tết lì xì trẻ con của nhà đó. Hoặc chủ nhà đón khách tới chúc Tết lì xì trẻ em đi theo khách. Ý nghĩa chính không nằm ở "tiền" mà ở "tình", tức ở lòng mong ước cầu chúc các cháu hay ăn chóng lớn, vui chơi, học hành tấn tới, còn phong bì nặng nhẹ nhiều ít (tiền) không phải là điều đáng để tâm lắm. Thậm chí không có một cắc bạc mà chỉ có... chữ. Chữ viết rõ to, đậm nét để "làm quà" mừng tuổi như chuyện dưới đây.
Xưa, có một nhà nọ, nghèo quá, sinh ba đứa con trai. Tết đến người cha không có tiền để lì xì. Chiều ba mươi, ông nghĩ ra một cách, lấy giấy đỏ làm 3 cái phong bì, bề ngoài trông thẳng thớm tươi tắn đỏ thắm như các phong lì xì khác. Nhưng bên trong không bỏ tiền, mà thay bằng 3 miếng giấy được ông viết 3 chữ nắn nót: Phước - Lộc - Thọ. Qua sáng mùng một, người cha gọi 3 đứa con trai đến trước bàn thờ, xoa đầu chúng, tươi cười mừng tuổi chúng bằng 3 cái phong bì nhẹ hẫng, sau khi đã giải thích Phước là gì, Lộc là gì, Thọ là gì... Qua Tết, bước vào năm mới, chẳng ngờ nhà ông phát tài, tiền vô như triều cường. Thoắt cái, lại tới ba mươi tháng chạp. Ý chừng nhớ lại Tết xưa nghèo thiếu, đạm bạc, ông định bụng sẽ tái diễn cách "lì xì" bằng chữ để ba đứa "Phước Lộc Thọ" đừng bao giờ quên rằng, chúng đã được ăn no mặc ấm từ một quá khứ đói rách gần đây. Ai đời, khi nhận phong bì xong, ba đứa con bóc ra, mỗi đứa đều thấy vỏn vẹn chữ Phước, còn hai chữ Lộc Thọ biến đâu mất. Người cha cũng ngạc nhiên không kém. Bốn cha con đang phân vân, bỗng một người từ đâu đến bảo: "Ta là phúc thần của đất này. Chữ Phước đó do ta ban cho. Chỉ cần có nó cũng gồm đủ cả ba: phước, lộc, thọ, vì có phước mới hưởng được lộc, mới thọ lâu. Vì thế chẳng cần phải cầu lộc, cầu thọ, chỉ một chữ phước để mừng tuổi đầu năm là đủ". Nói rồi, biến mất. Nhìn lại phong lì xì, cả bốn cha con sửng sốt một lần nữa vì chữ phước cũng biến mất luôn, trên mặt giấy trống trơn, trắng toát.
Bấy giờ vị thần thứ hai hiện ra kể cho bốn cha con nghe một chuyện mừng tuổi xa xưa. Đó là câu chuyện nổi tiếng khắp châu Á, loan truyền qua Tây Tạng và dãy Hy Mã Lạp Sơn, đến cả lưu vực sông Hoàng Hà, Dương Tử của Trung Quốc, du nhập vào Việt Nam từ lâu đời, về một người cầu phước được phước, trở nên giàu có nhưng hết sức keo kiệt. Ông ta quên những điều tốt đẹp, những ban phát ngọt ngào, rộng lượng mà mình đã làm ở tiền kiếp, vì vậy một mực thâu góp vàng ngọc về riêng mình, trong kiếp này, bỏ vào chiếc hũ, đem chôn ở một vị trí bí mật trong nhà không cho ai hay. Ngay cả con trai của ông cũng không được biết nơi cất giấu. Về già, ông ngã bệnh. Khi chết, linh hồn ông bị hũ vàng ám ảnh, đã quay lại nhà cũ, tìm cách chui vào xác chết cứng lạnh của mình, nhưng bất lực. Thấy vậy, một con chó gần nhà có linh tính đã nhường thể xác hèn mọn của mình cho kẻ giàu có kia trú vào, rồi bay lên không trung thoáng đãng. Còn ông nhà giàu thay thế làm chủ thể xác của con vật bốn chân, thỏa mãn được "sống" lại, dầu với tấm thân thuộc hàng súc sinh như chó. Con chó đó lạ thay suốt ngày không đi đâu cả, cứ nằm lì trước hiên. Mà chỉ nằm ở một nơi nhất định sát cửa ra vào. Hễ người con (bây giờ đã là chủ nhà) đuổi đi, một lát không lâu nó lại quay về chỗ cũ, cứ như rời chỗ ấy là nó rời sự sống của nó vậy. Các phước quả mà nó hưởng là hũ vàng ngọc, giờ đây trở thành điều vô phước cột chặt nó vào tham si. Ngày nọ, một đại sư ngang qua, nói với đứa con: "Này anh kia, anh có biết con chó đó là ai không?". "Dạ thưa không". "Ta nói cho biết, nó chính là cha của ngươi. Vì sao nó nằm lì suốt ngày đêm ở khoảnh đất sát cửa đó? Ấy là vì nó luyến tiếc của cải chôn dưới đất. Hãy đào lên". Người con lấy làm lạ, cho đào thử chỗ con chó thường nằm, thì quả nhiên thấy hũ vàng bên dưới. Bị rúng động vì việc này, người con tỉnh ngộ, từ chối sở hữu số vàng, rời nhà theo vị đại sư lên núi, về sau trở thành một trong những vị tổ đầu tiên của lịch sử Thiền tông. Vị này tỉnh ngộ rằng: nếu làm phước, được phước mà thiếu huệ tức trí huệ sẽ trở nên nguy hiểm ngu si như con chó kia vậy. Được phước, thiếu huệ, thì như nằm trên đống vàng, đống ngọc mà vẫn khổ đau, thiếu thốn, phiền bực. Kể xong, vị thần bảo: "Đó là lý do vì sao ta phải xóa trắng chữ phước trong bao lì xì mừng tuổi của các ngươi. Nó chỉ có ý nghĩa tốt đẹp nếu sinh đôi cùng huệ, bằng không chỉ là động lực cho những cuộc thăng trầm bất tận. Giờ đây ngươi hãy nhìn xem".
Bốn cha con thấy trên bao lì xì hiện lên hai chữ Phước Huệ. Hai chữ này để mừng tuổi cho mọi tâm hồn đã đi qua mùa đông để mở đầu một năm mới thăng hoa.
 Võ Thị Điềm Đạm

Thứ Năm, 6 tháng 2, 2014

309/ Mùa xuân -Thơ Bùi Giáng



                 Xin chào nhau giữa con đường
          Mùa xuân phía trước miên trường phía sau
                                    

                                              (Bùi Giáng, Chào Nguyên Xuân)
               Chào Nguyên Xuân là một bài thơ hay của nhà thơ Bùi Giáng trong tập Mưa Nguồn, và Mưa Nguồn theo ý người viết bài này, là thi phẩm hay nhất của ông, xuất bản trong năm 1962. Trong khoảng từ 1960 tới khi xuất bản tập thơ đầu tay này, hầu như chúng tôi gặp nhau hàng ngày, khởi sự thường là trong căn phòng tôi thuê ở đường Cao Tháng, xế rạp xi-nê Việt Long. Anh đến bằng cách nào không rõ lắm, nhiều khi đi đâu về đã thấy anh ngồi bệt trước cửa căn phòng đóng kín ở trên lầu hai. Khu này có 5 phòng, tôi ở phòng giữa, từ cửa sổ có thể nhìn thẳng xuống phòng khách một căn nhà của khu nhà phía sau, lại đúng là nhà của Giáo Sư Nguyễn Sỹ Tế. Cách nhà ông bốn năm căn về phía tay phải là nhà ông thầy Quốc Văn của tôi, Giáo Sư Lữ Hồ.
            Ðôi khi anh ngoắc tôi đi luôn, không cho vào nhà. Với chiếc velo solex, chúng tôi đi lòng vòng nhiều nơi. Anh ngồi phía sau, tay cầm một xấp bài vở kẹp trong một cái bìa, đôi khi kẹp trong một tờ báo, thường là báo Gió Mới của Hội Giáo Chức, tờ báo anh làm thư ký tòa soạn, đã đăng trước sau ba bốn bài “trăm câu một vần” của tôi. Nhiều lúc người bạn gái học Dược có giờ trống tới chơi mà anh cũng bắt tôi đi, dĩ nhiên là tôi phải từ chối, nhưng anh không giận. Anh còn làm ít ra là ba bài thơ về cô bạn tôi nhưng không hẳn là những bài thơ trọn vẹn. Thơ Bùi Giáng hay từng câu, ít khi trọn vẹn cả bài, nhưng bài Chào Nguyên Xuân là một bài hay trọn vẹn.
       Chào Nguyên Xuân
            Xin chào nhau giữa con đường
            Mùa xuân phía trước miên trường phía sau
          Tóc xanh dù có phai màu
          Thì cây xanh vẫn cùng nhau hẹn rằng
          Xin chào nhau giữa lúc này
          Có ngàn năm đứng ngó cây cối và
          Có trời mây xuống lân la
          Bên bờ nước có bóng ta bên người
Xin chào nhau giữa làn môi
Có hồng tàn lệ khóc đời chửa cam
Thưa rằng bạc mệnh xin kham
Giờ vui bất tuyệt xin làm cỏ cây
Xin chào nhau giữa bụi đầy
Nhìn xa có bóng áng mây nghiêng đầu
            Hỏi rằng người ở quê đâu
           Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà
           Hỏi rằng: từ bước chân ra
           Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài
           Thưa rằng: nói nữa là sai
            Mùa xuân đương đợi bước ai đi vào
Hỏi rằng: đất trích chiêm bao
Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau
Thưa rằng: ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân
                      

                        ( Bùi Giáng, Mưa Nguồn)
               Thơ Xuân là loại khó làm hay, vì đề tài này có cả ngàn bài, để vượt trội lên không phải chuyện dễ, tuy rằng có khi rất tình cờ nó trở thành một bài thơ hay. Người ta hay dùng chữ Nguyên Ðán, buổi sáng đầu tiên, sớm ngày đầu tiên, tác giả tìm được một nhan đề hay cho bài thơ xuân của mình, Nguyên Xuân: mùa xuân sớm nhất, mùa xuân đầu tiên. Và ở lúc sớm nhất của mùa xuân sớm nhất, chúng ta đã gặp nhau ở giữa đường rồi. Khi nào nhỉ ta đã lên đường, khi còn “tóc xanh” chúng ta đã “cùng nhau hẹn rằng” thì lúc “dù có phai màu” vẫn phải nhớ lời hẹn ấy, “chào nhau một bận sẽ còn nhớ nhau.”
            Chúng ta đã mỗi người ra đi từ lâu rồi, cuộc hành trình của chúng ta vẫn tiếp tục, rồi sau khi gặp nhau đây, chúng ta đâu có dừng lại, chúng ta còn: “mùa xuân phía trước.” Chúng ta chưa thực sự bước vào mùa xuân, mùa xuân còn ở phía trước chúng ta: “mùa xuân đương đợi bước ai đi vào.” Vậy là khi chúng ta gặp nhau đây, trong giữa cuộc hành trình của mỗi người - “giữa con đường” riêng của mỗi người, chúng ta ai cũng đã có một quá khứ bỏ lại: “miên trường phía sau.” Quá khứ ấy có thể đương thiêm thiếp ngủ, “miên trường,” giấc ngủ ấy có thể đã ngàn năm, cùng cỏ cây thiên nhiên trời mây nước, và “bên bờ nước có bóng ta bên người,” có thể kiếp trước chúng ta đã là bạn, có thể ở kiếp khác mỗi chúng ta có những quá khứ khác, cuộc đời này không phải mới bắt đầu, cũng không phải sẽ tồn tại, giữa chốn bụi hồng, dưới bóng mây xế, có người khác đương trông ngóng chúng ta:
                           Xin chào nhau giữa bụi đầy
                     Nhìn xa có bóng áng mây nghiêng đầu.
              Nghiêng là xế, nhìn xa là không phải chốn này, bóng một áng mây là trời chiều bảng lảng không phải nguyên xuân, mỗi chúng ta một tâm sự, những bóng dáng thân quen, mỗi chúng ta một cuộc đời, xin chào.
              Trong thơ, mỗi một chữ có nghĩa riêng đối với nhà thơ, không đồng nghĩa với chữ ấy của nhà thơ khác, và chắc chắn không hẳn là có nghĩa với chữ ấy trong Từ Ðiển. Nhà thơ Tản Ðà dùng chữ “Nghìn” (Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay) trong bài Tống Biệt, và đã giải thích tại sao ông không dùng chữ “Ngàn,” - dù nghìn năm hay ngàn năm chỉ có cùng một nghĩa. Trong bài Chào Nguyên Xuân, Bùi Giáng dùng chữ “đương” chứ không dùng chữ đang:
               Hỏi rằng: từ bước chân ra
              Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài
              Thưa rằng: nói nữa là ai

               Mùa xuân đương đợi bước ai đi vào.





            Ðương đợi hay đang đợi cũng chỉ có một nghĩa: nó đã bắt đầu và nó chưa chấm dứt, nhưng chữ “đương” chắc chắn là dài hơn chữ đang - nó tạo một âm hưởng sâu hơn chữ đang - cũng như chữ nghìn tạo âm hưởng sâu xa hơn chữ ngàn - và nếu bạn chưa đồng ý, xin hãy đếm: chữ đương có 5 con chữ đ, ư, ơ, n và g; trong khi chữ đang ngắn hơn rõ ràng, chỉ có 4 con chữ đ, a, n và g. Âm “đa” ở chữ “đang” và âm “đươ” ở chữ “đương” nghe khác hẳn nhau, một nông choèn choèn, một sâu thăm thẳm. Thơ là âm điệu của các con chữ, làm thơ là soạn nhạc cho một bài ca mà ký âm pháp (solfeggio) là các chữ cái; tiếng Việt có hơn 24 chữ cái (những chữ thêm của Việt ngữ là a thêm â và còn thêm 5 đấu sắc huyền hỏi ngã nặng, cũng tương tự như thế với các nguyên âm e, o, u, y) và lối viết ngàn hay nghìn, đang hay đương, dang hay dương, tràng hay trường, ngần hay ngùng,...) nó khiến ngôn ngữ thi ca Việt Nam là ngôn ngữ tuyệt diệu để làm thơ. 


Viên Linh