Thứ Sáu, 14 tháng 11, 2014

273/ Thơ về thầy cô

   



             Khi thầy về nghỉ hưu
(Lá Me)

Cây phượng già treo mùa hạ trên cao
Nơi bục giảng giọng thầy sao chợt thấp:
“Các con ráng… năm nay hè cuối cấp…”
Chút nghẹn ngào… bụi phấn vỡ lao xao.

Ngày hôm qua hay tự tháng năm nào
Con nao nức bước vào trường trung học
Thương cây lúa hóa thân từ hạt thóc
Thầy ươm mùa vàng, đất vọng đồng dao.

Mai thầy về, sân trường cũ nằm đau?
Hay nỗi nhớ lấp vùi theo cát bụi?
Dẫu cay đắng, dẫu trăm nghìn đau tủi
Nhọc nhằn nào thầy gửi lại ngày sau?

Mai thầy về, mùa gọi nắng lên cao
Vai áo bạc như màu trang vở cũ
Con muốn gọi sao lòng đau nghẹn *
Đã bao lần con ngỗ nghịch thầy ơi!


Không đề
(Nguyễn Thị Chí Mỹ)
Cầm bút lên định viết một bài thơ
Chợt nhớ ra nay là ngày nhà giáo
Chợt xấu hổ cho những lần cao ngạo
Thì ra con cũng giống bấy nhiêu người.

Cầm bút lên điều đầu tiên con nghĩ
Đâu là cha, là mẹ, là thầy…
Chỉ là những cảm xúc vu vơ, tầm thường, nhỏ nhặt…
Biết bao giờ con lớn được,
Thầy ơi !
Con viết về thầy, lại “phấn trắng”,”bảng đen”
Lại “kính mến”, lại “hy sinh thầm lặng”…
Những con chữ đều đều xếp thẳng
Sao lại quặn lên những giả dối đến gai người .

Đã rất chiều bến xe vắng quạnh hiu
Chuyến xe cuối cùng bắt đầu lăn bánh
Cửa sổ xe ù ù gió mạnh
Con đường trôi về phía chẳng là nhà…

Mơ màng nghe tiếng cũ ê a
Thầy gần lại thành bóng hình rất thực
Có những điều vô cùng giản dị
Sao mãi giờ con mới nhận ra.

GỬI VỀ CÔ GIÁO DẠY VĂN
( Nguyễn Thụy Diễm Chi)

Có thể bây giờ cô đã quên em
Học trò quá nhiều, làm sao cô nhớ hết
Xa trường rồi, em cũng đi biền biệt
Vẫn nhớ lời tự nhủ: sẽ về thăm.

Có thể bây giờ chiếc lá bàng non
Của ngày em đi đã úa màu nâu thẫm
Ai sẽ nhặt dùm em xác lá
Như em thuở nào ép lá giữa trang thơ ?

Ước gì… Hiện tại chỉ là mơ
Cho em được trở về chốn ấy
Giữa bạn bè nối vòng tay thân ái
Được vui-buồn-cười-khóc hồn nhiên

Em nhớ hoài tiết học đầu tiên
Lời cô dạy: “Văn học là nhân học”
Và chẳng ai học xong bài học làm người!
Chúng em nhìn nhau khúc khích tiếng cười
Len lén chuyền tay gói me dầm cuối lớp

Rồi giờ đây theo dòng đời xuôi ngược
Vị chua cay thuở nào cứ thấm đẫm bờ môi
Những lúc buồn em nhớ quá - Cô ơi!
Bài học cũ chẳng bao giờ xưa cũ…

(Ngân Hoàng)     

Thứ Tư, 12 tháng 11, 2014

272/Không đề

                  Anh  xa   rồi ...
                  Nẻo yêu   xưa....
                  Giật mình…
                             chớm  hạ không mưa  chẳng hừng
                  Chiều thu thẫm tím núi rừng
                  Kể chi ngã rẽ  hẻm dừng bóng qua…




                               ***
                   Còn chăng  kỉ niệm mờ xa
                   Chắt chiu gìn giữ để mà nhớ ai                 
                   Một mai, người hỡi  mốt mai  
                   Màu sương  tóc muối hình hài bóng ta.

     Nguyễn Thị Bích Trâm       

270/ Gửi con gái

             Thế là ngày sinh con gái sắp đến rồi. Má không bao giờ quên.
           Con ơi con có biết hạnh phúc biết bao khi được làm má, được nhìn thấy con khôn lớn mỗi ngày.
            Má bồi hồi nhớ lại. Những năm mới lập gia đình. Cuộc sống khó khăn, đồng  lương không đủ sống. Ba má làm đủ thứ việc. Nào là làm ruộng, trồng sắn, bán  sách, buôn sắn khô sắn tươi, bện chổi đót…. (ngoài việc ở trường).  Quần quật đi dạy rồi vô bao sắn , may bao sắn.    rồi ba con bị đau, nằm bệnh viện gần cả tháng, má phải  mang bụng bầu đạp xe  đạp 30 cây số mỗi ngày xuống bệnh viện. Trời nắng nóng, mưa rào buổi chiều, đường quốc lộ đầy hơi, khói đất nồng nặc. Mày đay nổi đầy người. Má không lo cho mình chỉ lo cho con sinh ra có hề gì.....
           Và con đã ra đời trong niềm mong đợi. Con kháu khỉnh và đáng yêu lắm con à. Năm lên hai tuổi con thường hay bị đau cảm và bệnh thương thực. Mỗi lần con lên cơn sốt, nôn mữa, tâm thần má bấn loạn, lo lắng, hốt hoảng  nghĩ đến cả những điều tồi tệ nhất. Má thật yếu đuối phải không con? Và rồi con lại khỏe. Và rất dễ thương. Không phải là “mẹ khen con” đâu.  
           Con đã lớn và cũng đã hiểu về ba má. Ba con tuy nóng tính nói những lời hơi khó nghe nhưng là người rất chiụ thương chịu khó và rất thương con cái. Con cũng đã hiểu về những nỗi khổ tâm má đã trải qua. Có lẽ không gì bằng. Và cả nỗi khổ sinh em Gâu…Phải mất đến năm năm kể từ khi sinh em má mới vơi đi phần nào những giọt nước mắt …Má đi trên đường, nhìn dòng người qua lại mà suy nghĩ: “Sao ông trời  lại thử thách con nhiều đến thế …Con có tội gì đâu …” .Nhưng rồi má đã  cố gắng, sống lạc quan vì con và em G.
          Ông trời có lẽ đã thương tình má nên đã cho má có một con gái là con.   Má và con hai thế hệ  khác nhau ý thức khác nhau quan niệm sống khác nhau khó có thể có những điểm tương đồng . Nhưng cho dù con có thể làm những việc má chưa hài lòng, có thể con của má chưa bằng thiên hạ , với má, con là nhất nhất . Con gái dễ thương học giỏi và ngoan... Đơn giản là vì má rất yêu con.  Má đặt hết niềm tin của cuộc đời vào con. Con là tất cả. 
         Giờ đây con má đã ở một nơi rất xa.  Nhiều lúc buồn  má cảm thấy nhớ con vô hạn  . Nhưng nghĩ đến con đến cu Gâu hay  đau ốm mà nghĩ má cần phải mạnh mẽ lên.
           Cuộc sống tự lập với những hoạt động tập thể chắc chắn sẽ làm cho con gái má ngày càng khôn lớn trưởng thành  và có một chỗ đứng trong xã hội.
          Gánh nặng gia đình sau này sẽ đè nặng trên vai con.  Nhưng biết làm sao con ơi. Có lẽ đó cũng là số phận. Má không muốn trao cho con gái bé bỏng nhưng cuộc đời là vậy con à. Mang nặng kiếp người  thì làm sao không chịu khổ đau. Nhưng có lẽ trong khổ đau con người sẽ tìm thấy niềm hạnh phúc.
          Nơi xa xôi đất Sài thành con có được tình yêu sự quan tâm chu đáo của các dì và các cậu. Con hãy khắc ghi công ơn đó vào đáy lòng con à. Má tin rằng con của má là người sống có trách nhiệm, sống nhân hậu, có tình có nghĩa.
         Lời cuối cùng nhân ngày ý nghĩa sắp đến, má mong con sống yêu đời, lạc quan, học tập làm việc hết sức mình, biết quan tâm yêu thương đến những người xung quanh nhất là những người khổ hơn mình và rèn cho mình những kĩ năng sống tốt nhất.  Hãy trưởng thành bằng sự nỗ lực của trí tuệ và tâm hồn chính mình con nhé. Yêu con thật nhiều. 

Tháng 11/ 2014
Má của con 
      


Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2014

268/ Những bài văn điểm 10 xúc động

Nguồn : Báo Giáo dục thời đại

Bài văn về thầy giáo cũ gây xúc động
Ngày 16/10, Vũ Phương Thảo (lớp 10A1, THPT Định Hóa) được biết đến với bài văn điểm 10 về người thầy có những cảm xúc trong sáng, chân thành.

Trong bài văn, Thảo viết: “Máy quay dường như đang chậm lại, từng cảnh từng nét hiện lên rõ ràng. Tôi thấy thầy đang lụi hụi trồng rau, chăm sóc con chó lông trắng đen già khụ, thấy cả chúng tôi ngày đó, trong những ngày vất vả nhưng yên bình. Tôi nghĩ, có lẽ đó là những ngày hạnh phúc và vui vẻ nhất tôi từng có. Sau này, khi bước đi trên đường đời chông gai, có thể sẽ chẳng còn ai chỉ bảo, dạy dỗ tôi tận tình như thầy đã từng, có thể sẽ chẳng có ai lo tôi liệu có ngủ đủ giấc, liệu có stress khi nhồi nhét quá nhiều. Nhưng, cố nhân từng nói, cuộc đời chỉ cần một người khiến ta ngưỡng mộ, để cả đời noi gương, cả đời thương mến. Vậy là quá đủ rồi”.
Bài văn của nữ sinh đạt điểm 10.
Bài văn của nữ sinh đạt điểm 10.
Bài viết đã được thầy Phạm Vũ – Giáo viên trường THPT Định Hóa (Thái Nguyên) cho điểm xuất sắc: “Đây là lần đầu tôi chấm 10 điểm cho học sinh ở môn Văn. Tôi khâm phục em vì còn ít tuổi nhưng suy nghĩ chín chắn, sâu sắc thể hiện cả con người và cách sống đều rất đẹp".
Nhanh chóng bài văn được lan tỏa trên mạng xã hội và giới truyền thông. Ngay ngày hôm sau, ê-kip của chương trình Chuyển động 24h tìm về ngôi trường THPT Định Hóa (Thái Nguyên). Phương Thảo đã được gặp thầy giáo cũ, ngồi ôn bài trong lớp xưa.
Thầy Nguyễn Văn Tâm - từng dạy Toán trường THCS Chợ Chu cũng là người thầy được Thảo viết đến trong bài viết tâm sự: "Cảm xúc của tình thầy trò thật sự xúc động". Lời nói này của thầy Tâm là sự thành công cũng như món quà quý giá nhất cô học trò nhận được sau bài viết của mình.
Phương Thảo chia sẻ, viết về thầy Nguyễn Văn Tâm là bài văn thứ hai em đạt điểm 10. Trước đó, trong năm học lớp 8, Thảo từng xuất sắc đạt điểm tuyệt đối khi viết thơ cũng về chủ đề này.
Phương Thảo trong tiết học của thầy giáo Nguyễn Văn Tâm.
Phương Thảo trong tiết học của thầy giáo Nguyễn Văn Tâm.
Bài văn viết về bố làm nghề xe ôm
Năm 2013, bài văn viết về bố được nữ sinh lớp 10 trường THPT Huỳnh Thúc Kháng (TP Vinh - Nghệ An) nhận được sự chú ý của nhiều người. 
Bài văn của học sinh Nguyễn Thị Hậu khi học lớp 10A2 viết về người bố làm nghề xe ôm, được luật sư Trần Đình Triển chia sẻ trên mạng xã hội.
Nhập mô tả cho 1
Bài văn viết về bố được điểm 9,5. Ảnh: VTC.
Bài văn xúc động người đọc bởi cảm xúc chân thành từ chính tình cảm của con dành cho người cha tần tảo của mình. Cô giáo đã chấm cho Hậu 9,5 điểm với lời nhận xét: 
“Em là một người con ngoan, bài viết của em đã làm cho cô rất xúc động. Điều đáng quý nhất của em là tình cảm chân thực và em có một trái tim nhân hậu. 
Em đã cho cô một bài học làm người. Mong rằng đây không chỉ là trang văn mà còn là sự hành xử của em trong cuộc đời”. Được biết, thầy Lê Trần Bân, hiệu phó trường THPT Huỳnh Thúc Kháng đã đọc bài văn trong lễ chào cờ đầu tuần, trước toàn trường.
Trích đoạn bài văn của em Nguyễn Thị Hậu có những dòng xúc động như sau: “Bố tôi không may mắn như những người đàn ông khác. Trong suốt cuộc đời bố có lẽ không bao giờ được sống trong sự sung sướng, vui vẻ.
Bốn mươi tuổi khi chưa đi được nửa chặng đời người, bố đã phải sống chung với bao nhiêu bệnh tật: Đầu tiên đó chỉ là những cơn đau dạ dày, rồi tiếp đến lại xuất hiện thêm nhiều biến chứng. Trước đây, khi còn khỏe mạnh, bao giờ bố cũng rất phong độ.
Thế nhưng bây giờ, vẻ đẹp ấy dường như đã dần đổi thay: Thay vì những cánh tay cuồn cuộn bắp, giờ đây chỉ còn là một dáng người gầy gầy, teo teo. Đôi mắt sâu dưới hàng lông mày rậm, hai gò má cao cao lại dần nổi lên trên khuôn mặt sạm đen vì sương gió.
Tuy vậy, bệnh tật không thể làm mất đi tính cách bên trong của bố, bố luôn là một người đầy nghị lực, giàu tự tin và hết lòng thương yêu gia đình. Gia đình tôi không khá giả, mọi chi tiêu trong gia đình đều phụ thuộc vào đồng tiền bố mẹ kiếm được hàng ngày”.
Bài văn viết về mẹ
Cũng giống như Nguyễn Thị Hậu, học sinh Nguyễn Thị Kiều Vân viết về người thân trong gia đình đó là mẹ gây xúc động. Bài văn được viết tháng 4/2013 trong tiết kiểm tra môn Ngữ văn khi Kiều Vân học lớp 8. Bài văn được chấm điểm tối đa 10, kèm theo đó là dòng nhận xét “Bài viết quá xúc động, cảm ơn con”.
Bài văn của học sinh Kiều Vân.
Bài văn của học sinh Kiều Vân.
Trong bài văn của mình, Vân viết: “Tuổi thơ tôi không được may mắn như bao đứa trẻ khác. Từ khi sinh ra tôi đã mồ côi cha. Một mình mẹ nuôi tôi khôn lớn, mẹ là người cha, người mẹ tuyệt vời nhất trên đời này. 
Nhưng khi tôi lên chín tuổi, thời gian quá ngắn giữa mẹ và tôi thế nhưng mẹ đã bỏ tôi một mình bơ vơ trên cõi đời này mà ra đi. Chỉ chín tuổi tôi còn quá nhỏ để hiểu được sâu sắc việc mãi mãi không có mẹ bên cạnh. 
Như hình ảnh ngày nào của mẹ thì không bao giờ phai trong tôi, mỗi bước chân tôi đi như có bóng mẹ soi đường, chỉ tôi. Mẹ là người sống mãi mãi trong lòng tôi.
Mẹ tôi là người phụ nữ mạnh mẽ, mẹ luôn sống vì tôi. Tuy cuộc sống vất vả và phải sống chung với căn bệnh hiểm nghèo nhưng mẹ sống rất lạc quan, yêu đời. 
Mẹ tôi cao, làn da xám đen vì nắng gió. Khuôn mặt phúc hậu, hiền từ. Mẹ luôn dạy bảo tôi những điều tốt nhất. Mẹ động viên tôi những khi tôi buồn, tôi thất bại. Mẹ luôn lo lắng, mang những điều tốt đẹp đến cho tôi còn tôi thì chỉ biết làm mẹ buồn, mẹ khóc".

267/ Những bài thơ hay viết về Mẹ


MẸ ỐM 

Mọi hôm mẹ thích vui chơi
Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu
Lá trầu khô giữa cơi trầu
Truyện Kiều gấp lại trên đầu bấy nay
Cánh màn khép lỏng cả ngày
Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa
Nắng mưa từ những ngày xưa
Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan
Khắp người đau buốt, nóng ran
Mẹ ơi ! Cô bác xóm làng đến thăm
Người cho trứng, người cho cam
Và anh y sĩ đã mang thuốc vào
Sáng nay trời đổ mưa rào
Nắng trong trái chín ngọt ngào bay hương
Cả đời đi gió đi sương
Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi
Mẹ vui, con có quản gì
Ngâm thơ kể chuyện rồi thì múa ca
Rồi con diễn kịch giữa nhà
Một mình con sắm cả ba vai chèo
Vì con, mẹ khổ đủ điều
Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn
Con mong mẹ khỏe dần dần
Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say
Rồi ra đọc sách, cấy cày
Mẹ là đất nước, tháng ngày của con. 


Trần Đăng Khoa

GỞI MẸ

Tha thứ cho con, mẹ
Con đã quên lời mẹ ân cần
Con nhầm tưởng mình đã biết dại khôn
Con nhầm tưởng mình không là đứa trẻ
Trăm năm thèm tiếng vỗ về

Mẹ đừng im lặng thế
Mẹ đừng xa xót thế
Sao mẹ không mắng con
Con đã đánh mất quyền được làm đứa trẻ
Quyền được sợ chiếc roi tre mẹ giắt ở mái nhà

Con nào có gì sau năm tháng đi xa
Chỉ đôi tay đã bầm nhiều vết cứa
Chỉ đôi mắt dửng dưng tàn tro bếp lửa
Tiếng thở dài trong mỗi bước chân qua

Con không giàu hơn sau năm tháng xa nhà
Nước mắt cũng nghèo đi
Niềm tin cũng nghèo đi
Và hạnh phúc là cánh diều ảo ảnh

Mẹ ơi, con thèm được khóc
Thèm được mẹ dỗ dành
Mẹ cầm lấy chiếc roi tre đi mẹ
May ra con còn nước mắt
Con chưa lớn đó chính là sự thật











Tha thứ cho con, mẹ
Con đã mang trái tim mẹ trong  ngực con đi
Và thương tổn
Con biết làm gì bây giờ
Khi máu chảy đã lạnh lùng sắc đỏ

Mẹ đừng im lặng thế
Mẹ đừng xa xót thế
Mẹ cầm lấy chiếc roi tre đi mẹ...

Hoàng Long











266/HUYỀN THOẠI TRƯỜNG SƠN VÀ NHỮNG CÔ GÁI MỞ ĐƯỜNG


 Nguyễn Thị Thu Thủy

" Trường Sơn đông nắng, tây mưa- Ai chưa đến đó như chưa rõ mình ”


Trường Sơn- một thời hoa lửa, từ lâu đã trở thành một đề tài không vơi cạn trong thơ ca chống Mĩ cứu nước. Nhắc đến tuyến đường Trường Sơn huyền thoại nối liền Bắc-Nam, ta không thể bỏ qua sự góp mặt của một " binh chủng ” đặc biệt: thanh niên xung phong. Trong những năm khói bom rực trời ấy, lực lượng thanh niên xung phong có vai trò hết sức quan trọng tham gia mở đường, phá bom, san lấp hố bom, bảo đảm con đường huyết mạch ấy luôn được thông suốt cho những đoàn quân, đoàn xe ra trận. Nhớ về Trường Sơn, không thể nào quên hình ảnh các cô thanh niên xung phong và hình tượng các cô đã đi vào không ít các trang thơ, trang văn. Thơ ca những năm chống Mĩ đã dành một phần lớn sự ưu ái cho hình tượng người nữ thanh niên xung phong. Đặc biệt, hình ảnh các cô xuất hiện như những ngôi sao lấp lánh không rực rỡ mà sáng trong, tưởng như xa mà lại gần trong các bải thơ: Lá đỏ ( Nguyễn Đình Thi ), Khoảng trời-hố bom ( Lâm Thị Mĩ Dạ ), Gửi em, cô thanh niên xung phong ( Phạm Tiến Duật ).
Lực lượng thanh niên xung phong vốn đã xuất hiện trong thơ ca thời kháng chiến chống Pháp và thường được gọi là dân quân, dân công. Trong bài thơ Việt Bắc, Tố Hữu đã từng viết về họ với khí phách oai hùng, đạp bằng gian khổ góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ:  " Dân công đỏ đuốc từng đoàn- Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay ”. Thơ ca chống Mĩ cứu nước ghi lại tập trung hơn với nhiều hình ảnh đẹp, chân thực, cao cả về những cô gái thanh niên xung phong- nhân vật của thời đại, nhân vật của văn chương.
Trước hết, các nữ thanh niên xung phong bước vào trang thơ là những cô gái vô danh, được gọi tên chung là Em. Tuy không tên gọi thậm chí không một lần rõ mặt nhưng các cô mãi là những ấn tượng khó quên. Nhà thơ Lâm Thị Mĩ Dạ tưởng niệm cô gái không tên, không tuổi hi sinh để cứu con đường cho đoàn xe kịp giờ ra trận qua những dòng thơ dạt dào xúc động:
                        Tên con đường là tên em gửi lại
                        Cái chết em xanh khoảng trời con gái
                        Tôi soi lòng mình trong cuộc sống của em  
                        ….
                        Gương mặt em bạn bè tôi không biết
                        Nên mỗi người có gương mặt em riêng
                                                            ( Khoảng trời- hố bom)
Với Lá đỏ, Nguyễn Đình Thi đã thân mật gọi tên các nữ thanh niên trong một lần gặp mặt vội vã, trên con đường hành quân xa là em gái tiền phương:
                        Gặp em trên cao lộng gió
                        Rừng lạ ào ào lá đỏ
                        …
                        Chào em, em gái tiền phương
                        Hẹn gặp em nhé giữa Sài Gòn
Viết về hiện thực Trường Sơn và những cô gái thanh niên xung phong, ta không thể bỏ qua thi sĩ Phạm Tiến Duật. Anh được mệnh danh là con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại, cây săng lẻ của rừng già. Hình tượng nữ thanh niên xung phong xuất hiện xuyên suốt trong thơ anh, nhưng hầu hết đều không có tên gọi. Họ đại diện cho vẻ đẹp chung của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời chống Mĩ:
                        Ơi em gái chưa một lần rõ mặt
                        Có lẽ nào anh lại mê em
                        Từ cái đêm Thạch Nhọn Thạch Kim
                        Tên em đã thành tên chung anh gọi
                        Em là cô thanh niên xung phong
                                    ( Gửi em, cô thanh niên xung phong )
Phải chăng, các nhà thơ thời chống Mĩ đã cố ý mờ hóa tên tuổi của các cô để tô đậm phẩm chất cao đẹp của người nữ thanh niên xung phong? Các cô, các chị đã hóa thân thành tên gọi chung của đất nước để đất Việt hôm nay được bay lên trong bát ngát mùa xuân.
            Hình tượng các chị xuất hiện với nhiều dáng vẻ khác nhau bởi sự cảm nhận và phong cách của mỗi nhà thơ là riêng biệt. Đó là một Lâm Thị Mĩ Dạ cảm xúc lắng sâu, một Nguyễn Đình Thi triết lí suy ngẫm, một Phạm Tiến Duật tếu táo, đùa nghịch ... Nếu Khoảng trời-hố bom là khúc tưởng niệm, là nén tâm nhang cho cô gái phá bom cứu lấy con đường thì Lá đỏ,Gửi em-cô thanh niên xung phong là những vần thơ giàu chất sống về ý chí ngoan cường của người nữ thanh niên ở đại đội làm đường.
Dù xuất thân từ những vùng quê khác nhau, giọng nói và lối sống mỗi người mỗi vẻ nhưng các chị lại gặp nhau trong tình yêu quê hương đất nước sâu nặng, ở lí tưởng xả thân và vẻ đẹp tâm hồn bình dị, sáng trong. Ta bắt gặp cô thanh niên xung phong tinh nghịch hồn nhiên trong thơ Phạm Tiến Duật:
Em ở Thạch Kim sao lại lừa anh nói là "Thạch Nhọn”
Đêm ranh mãnh ngăn cái nhìn đưa đón
Em đóng cọc rào quanh hố bom
Cái miệng em ngoa cho bạn cười giòn
                        ( Gửi em, cô thanh niên xung phong)
            Chất giọng Hà Tĩnh chua ngoa đanh đá của các cô thanh niên xung phong gợi ta nhớ đến nét hồn nhiên trong sáng của mười cô gái ở ngã ba Đồng Lộc, Quảng Bình năm nào. Mười khuôn mặt trẻ trung bình dị ấy mãi là điểm nhấn trong kí ức mỗi người khi đến thăm nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Gian khổ đe dọa, cái chết rình rập không ngăn được nét lạc quan, trong trẻo trong tâm hồn của người con gái Việt Nam. Ta không khỏi bật cười khi đọc những dòng thơ sau của Phạm Tiến Duật: Đại đội thanh niên đi lấp hố bom- Áo em hình như trắng nhất. Là con gái, cô nào không thích chưng diện. Hoàn cảnh làm việc ban đêm giữa chiến trường nhà ngoái cũng như nhà tranh, nhưng các cô vẫn tranh thủ cơ hội để diện áo trắng. Ý thơ vừa gợi lên cái khốc liệt của hoàn cảnh khiến chúng ta cảm thấy xót xa, vừa tô đậm nét nữ tính, đời thường của người nữ thanh niên xung phong.
Chất bình dị, đời thường, chân quê của các chị, các cô chính là hình ảnh của quê hương trong lòng người ra trận. Hình ảnh cô gái với chiếc áo bạc màu sương gió mãi là nguồn động viên, thôi thúc người chiến sĩ trên chặng đường hành quân gian nan:
                        Em đứng bên đường, như quê hương
                        Vai áo bạc quàng súng trường
                                    ( Lá đỏ - Nguyễn Đình Thi)
            Và đến khi nằm xuống, tâm hồn của các cô là khoảng trời, vì sao mãi ngời chói soi đường, dẫn lối cho những đoàn xe ra mặt trận:
                        Em nằm dưới đất sâu
                        Như khoảng trời đã nằm yên trong đất
                        Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng
                        Những vì sao ngời chói lung linh
                                    ( Khoảng trời – hố bom )
            Có cái chết hóa thành bất tử và cái chết của cô gái mở đường trong ý thơ của Lâm Thị Mĩ Dạ là những vì sao, những ngọn lửa sáng ngời. Sự hi sinh của người thanh niên xung phong năm nào trên tuyến đường Trường Sơn rực lửa như hình ảnh của dũng sĩ Đankô đã bứt quả tim mình biến thành ngọn lửa dẫn lối những người cùng khổ đi tìm miền đất hứa:
                        Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa
                        Đánh lạc hướng thù hứng lấy luồng bom
                                    ( Khoảng trời – hố bom )
            Đó cũng chính là vẻ đẹp phi thường của người nữ thanh niên xung phong mà không hiếm trang viết của những nhà văn, nhà thơ đã từng đề cập. Nét quả cảm bất chấp hiểm nguy của các cô đã được Phạm Tiến Duật khắc họa qua giọng thơ sôi nổi, trẻ trung trong Gửi em, cô thanh niên xung phong:
                        Cạnh giếng nước có bom từ trường
                        Em không rửa ngủ ngày chân lấm
                        Ngày em phá nhiều bom nổ chậm
                        Đêm nằm mơ nói mớ vang nhà
            Thật đúng là: anh hùng đâu cứ phải mày râu. Các cô gái vóc dáng nhỏ nhắn tưởng như chân yếu tay mềm ấy lại táo bạo và đầy bản lĩnh. Hành động nằm ngủ thản nhiên giữa ban ngày, bên cạnh một giếng nước có bom từ trường của cô gái trong ý thơ, khiến chúng ta bàng hoàng, sửng sốt. Các cô gan dạ, táo tợn chẳng khác nào một Út Tịch trong Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, một chị Sứ trong Hòn đất của Anh Đức…
            Hình ảnh các cô, các chị mãi là chiếc cọc tiền tiêu dẫn đường cho đoàn quân Nam tiến. Lá đỏ của Nguyễn Đình Thi đã chụp lại tấm ảnh về tư thế hiên ngang của người nữ thanh niên xung phong trong không gian Trường Sơn với bụi lửa nhạt nhòa. Dáng đứng của ” em” trên con đường Trường Sơn năm ấy như tạc vào trang sử một dáng đứng Việt Nam:
                        Em đứng bên đường, như quê hương
                        Vai áo bạc quàng súng trường
                        Đoàn quân vẫn đi vội vã
                        Bụi Trường Sơn nhòa trời lửa
            Có thể nói: Lá đỏ là hiện thực Trường Sơn gian khó và hào hùng, lá màu đỏ là máu của các anh, các chị đổ ra thấm đẫm màu cờ Tổ quốc.
            Sống trong cát, chết vùi trong cát – Những trái tim như ngọc sáng ngời (Tố Hữu). Vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp của hành động xả thân ở cô gái thanh niên xung phong muôn đời ngời sáng. Sự hi sinh cao cả của người thanh niên năm nào sẽ là tấm gương trong vắt để thế hệ mai sau soi mình và tìm ở đó những "chất ngọc” quý giá:
                        Hỡi mặt trời hay chính trái tim em trong ngực
                        Soi cho tôi ngày hôm nay bước tiếp quãng đường dài.
                                    ( Khoảng trời – hố bom )
            Thời đại mới chắp cho ta đôi cánh – đôi cánh thiên thần để đưa đất nước lên tầm cao mới. Song sự vươn mình kì lạ của Tổ quốc hôm nay không thể có nếu như thiếu đi sự hi sinh quên mình của những thế hệ cha ông. Nhắc đến sự cống hiến thầm lặng đó, ta mãi mãi không quên công lao của những người mẹ, người chị - những người nữ thanh niên xung phong trên tuyến lửa Trường Sơn. Họ là cô gái " hăm bảy tuổi chuyện chồng con chưa nói – Cả một thời trẻ trung sôi nổi - Ở bên nhau bếp lửa giữa rừng xa…”( Phạm Tiến Duật )
            Gương mặt của họ rất lạ nhưng cũng rất quen. Họ không chỉ xuất hiện trong những dòng thơ mà ta đã đọc mà còn là hình ảnh đầy ấn tượng trong những trang văn của Lê Minh Khuê với Những ngôi sao xa xôi, Nguyễn Minh Châu với Mảnh trăng cuối rừng hay Ráng đỏ của Đỗ Chu… Sau này, trong những trang viết sau 1975 ta lại gặp họ tái hiện trong Hai người đàn bà xóm trại (Nguyễn Quang Thiều), Người sót lại của rừng cười (Võ Thị Hảo)… Trong âm nhạc, giai điệu thân quen của Xuân Giao về Cô gái mở đường Trường Sơn năm nào khiến chúng ta không thể nào quên: "Đi giữa trời khuya sao đêm lấp lánh, tiếng hát ai vang động núi rừng. Phải chăng em, cô gái mở đường, không thấy mặt người chỉ nghe tiếng hát… Ôi biết bao cô gái đang ngày đêm mở đường, hỏi em bao nhiêu tuổi mà sức em phi thường…”
            Có thể nói hình ảnh người nữ thanh niên xung phong năm xưa đã góp phần dệt nên những trang sử hào hùng cho dân tộc Việt Nam hôm nay sánh vai cùng các cường quốc năm châu. Trở về với đời thường, các cô là những người vợ, người mẹ gần gũi thân thương. Nhưng cũng không hiếm người đã cống hiến cả tuổi xuân cho trận chiến để đến khi trở về, tóc không còn xanh nữa. Sự hi sinh thầm lặng của các cô đáng được ghi công và kính nể.
            Xã hội thời mở cửa, một bộ phận trong giới trẻ điên cuồng chạy theo lợi nhuận kinh tế, liệu trong số họ có còn ai khao khát cống hiến và sẵn sàng hi sinh vì lí tưởng như thế hệ thanh niên thời chống Pháp, chống Mĩ?
Đọc lại những dòng thơ viết về những người nữ thanh niên xung phong năm xưa,  ta xúc động, tự hào và cảm phục biết bao. Hãy nghĩ nhiều về những ngày đã qua để sống tốt hơn trong hiện tại. Đó phải chăng là thông điệp mà Nguyễn Đình Thi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Phạm Tiến Duật gởi lại cho đời từ hình ảnh của những cô thanh niên xung phong chỉ biết: Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.


Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014