Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2016

460/ SÓNG XÔ BẾN RÌ -TRUYỆN NGẮN CỦA TIÊU ĐÌNH


Truyện ngắn của Tiêu Đình




Người đàn bà đã quá tứ thập nhưng màu mắt vẫn còn sáng trong và lãng đãng chút khói sương xa vắng. Người ta sang sông. Riêng chị thì cứ đi đi lại lại như muốn tìm người thân hay một báu vật nào đó. Những dấu giày nối nhau in trên cát trắng mịn cứ nhỏ dần, nhỏ dần. Những dấu vết tận cùng về phía mặt trời lặn giống như sự lỗi hẹn của những dấu chấm lững. Thỉnh thoảng chị dừng chân, chăm chắm nhìn ngọn đồi cây đá chen nhau đang còn vướng vất mấy sợi nắng yếu mềm. Có lúc chị mỉm cười tần ngần ngắm mấy đứa trẻ chơi đuổi bắt nhau, ngã lăn tròn trên bãi, thân hình muối cát như người ta lăn nắm xôi vò vào dĩa muối mè trước khi gói bằng lá chuối mang lên rừng.
Hồi xấp xỉ tuổi lũ trẻ, chị mê vui chơi không bằng mê ngắm người dân bổn địa bến Rì khoát chiếc khăn lên người để thay đồ. Dường như chỉ thấy họ cầm đầu mối khăn quơ một vòng tay như người ta làm xiếc mà không kịp nhận ra đầu mối ấy được giắt dính vào đâu, từ lúc nào. Thế là chỉ cần tiếp một động tác co chân nép người bên bụi Rì, họ đã thay chiếc quần sũng nước bỏ phịch trên cát, kín đáo và nhanh gọn. Lớn lên, cũng như người chị dâu từ dưới xuôi về, tập hoài vẫn chưa kịp thành thạo những động tác ấy chị đã phải xa làng, xa cái bến quê thanh bình trong ký ức tuổi thơ.
Không thấy loại Rì cây lá nhỏ, dưới nắng chỉ bám mấy chiếc rễ vào cát nóng vẫn cứ sống, cứ xanh. Cũng không thấy loại Rì đuối đan nhau dày đặc trên cát nóng, ngọn giống cái đuôi con cá đuối mẫn cán quẫy đạp cùng cát mà không bao giờ chịu để cho cát vùi lấp. Mùa mưa, lũ về vùi lấp hay cuốn sạch những thân Rì tấp vào ghềnh đá, bụi tre, tháng sau đã thấy chúng từ đâu lại trồi lên trên cát trắng những mầm mới hứa hẹn. Không thấy những cặp tình nhân vọc trăng vọc cát bên bụi Rì toả bóng che chắn. Sáng ra, lá Rì bị bứt bỏ đầy trên cát mịn. Không thấy người dân bến nằm ngửa trên đám Rì đuối chờ phơi áo quần khô ráo. Không thấy lũ trẻ mặc cả lời đồn bến Rì có ma rủ nhau ra đó chơi trò trốn tìm, áo cởi vắt trên những cành Rì oằn xuống sát đất. Sau cuộc, kẻ thắng người thua đều nhảy bùm xuống sông bơi tắm. Không thấy mấy sơn nữ tóc dài giặt đồ dưới bến, đem trải phơi trên thân Rì, chưa hết tiếng cười trong veo đã đủ khô để mang về.
-Bà có qua sông không?
-…
-Dạ, bà qua sông hay muốn tìm ai?- Người lái đò hỏi đến lần thứ hai chị mới giật mình.
-Bến Rì ở chỗ nào vậy ông?
-Thì ở đây chứ chỗ mô nữa.
Người đàn bà bà nói một mình như vẫn chưa tin: “Lạ quá!”
-Vậy sao chẳng thấy cây Rì nào cả?
Cây Rù Rì? Ừ nhỉ…bà nhắc tôi mới nhớ....-Ông lái đò nhìn sông rồi ngước nhìn cây cầu bê-tông mới vắt ngang qua bến Rì- Từ ngày có đường mới, cầu mới và bên Lâm Hạ chuẩn bị lên đời thị trấn thì có bao giờ sông được yên đâu bà. Người ta đào chỗ nầy lấy cát sỏi, khoét chỗ kia lấy đất đá, bên lở thành ra bên bồi….
Chỉ còn lại một ít chiều trên chóp núi Ấn. Hai con người, hai ý nghĩ khác nhau. Chị nghĩ về cái thời tay cầm chai rượu trắng nhét nút cùi bắp, tay chị giữ chặt bàn tay cha tập bước qua tấm ván nhỏ lên con đò chòng chành lắc lư để sang bên kia sông ăn giỗ. Mạnh dạn lên. Dân bến mà không tập lên xuống đò thì không phải là dân bến. Rồi mơ hồ vẳng lên trong chị lời của một người con trai: Lớn lên anh sẽ đưa em ra bến Rì…. Ông lái đò thì như đang nghe lời nội kể năm nào: Ông bà mình đặt tên bến Rì là do ở đây mọc nhiều cây Rì lắm, một loài cây sống rất giống với người dân Lâm Yên. Mùa lũ trắng nước, mùa khô trắng đất cây Rì vẫn trơ gan cùng năm tháng như dân làng vẫn thuỷ chung bám sỏi đá và cát trắng để tồn tại…. Tuổi nhỏ, chưa thể hiểu hết ý khái quát trong câu nói của nội, nhưng ông biết rõ chỉ với những cụm Rì không cao quá đầu mà trò chơi đuổi bắt, trốn tìm vẫn bao đời được lặp lại. Cái bóng Rì chỉ đổ mát một vùng nhỏ bằng chiếc nia con mà bao người đã nương vào đó giữa nắng trời nóng cát. Dây Rì đuối bò mềm oặt trên cát mà chịu nóng chịu nước không chê vào đâu được. Yếu mềm thế mà Rì đã phải hứng chịu biết bao phẫn nộ, yêu thương của thiên nhiên, con người. Chỉ vài chiếc rễ bám vào cát, Rì vẫn hát reo cùng gió núi, ngả nghiêng đó rồi vững vàng đó. Vậy mà khi được hỏi cây Rì mất đâu cả rồi, ông, người lái đò truyền thống của bến Rì, lại giật mình. Nhỏ bé quá chăng, hay là con người đã quá thờ ơ với chúng, với những gì đang tốc độ vận hành xung quanh?
-Lâu quá rồi, tôi không còn nhớ rõ giống Rì đã đi đâu về đâu -Người lái đò vẫn khuấy đều mái chèo, đối thoại qua một không gian nước, mắt nhìn xa xăm vào khoảng không vừa tắt nắng- Ngày tản cư khỏi làng, tôi vẫn còn thấy bến Rì xanh dày những cây Rì tua tủa lá cành, những vùng cát trải đầy thân lá của loại Rì đuối chỉ thấy ngọn mà không biết gốc rễ ở tận đẩu đâu. Bom đạn xối xuống làng, những thân Rì ngả nghiêng, những thân Rì bị vùi chôn, những thân Rì bật gốc trôi theo sông. Nhưng vẫn còn đó những cây Rì bám cát để thử sức mình với hạn hán và bão lũ….
Chị xoay mặt về hướng người đàn ông đang chèo đò như đang thả hồn mộng du cùng mây trời. Mái chèo vỗ nước chậm đều. Sóng xao dịu nhẹ như chỉ một thoáng cau mày êm ái. Bến vắng. Một mảng tối nhanh chóng trùm xuống vùng cát trắng dưới chân cầu, nơi mà ngày xưa, vào giờ nầy, trẻ già trai gái làng Lâm Yên gần như đổ dồn về đây, thu gọn cuộc sống của làng vào một bến sông. Người gọi người, người sang sông, người tắm rửa vội vàng, người nằm ngữa trên cát để uống gió và lắng nghe những âm vang đì độp, chát chao của bến trời, bến đời.
Người đàn ông tấp đò cập bến, chậm rãi bước lên bờ, ngồi duỗi chân trên cát mịn châm thuốc, như không hề biết sự có mặt của người khách lạ. Một vì sao sớm vừa chớp mắt trên cao. Hàng chục ánh đèn xe máy, ô tô đan xéo nhau trên cây cầu mới chênh vênh. Tiếng máy nổ rền vang. Chị cũng ngồi phịch xuống cát, cùng hướng nhìn với ông lái đò, chân gần chạm chân.
-Ông là người bến Rì?
-Nhưng tôi sống ở nơi khác nhiều hơn là ở bến Rì.
-Thế ông có biết cụ Xá lái đò hồi xưa còn hay mất không ông?
Ông lái đò xoay người nhìn thẳng vào mắt người đàn bà. Ánh mắt của khách có cái lạ của xa xôi thời gian, của khắc khoải không gian và cái quen quen của người dân bến Rì. Điếu thuốc trên môi ông chớp lửa, thoáng soi một chút xao động trên vẻ mặt phong trần.
-Bà là người Lâm Yên?
-Dạ,…Nhưng tôi đã xa làng từ hồi mới lên mười.
-Lên mười….À, mà sao bà biết ông Xá? Ông Xá là ông nội của tôi. Trong chiến tranh, cha tôi vẫn thay thế ông nội chèo đò ở bến Rì được một thời gian rồi mới mất. Còn tôi, trở về làng sau ngày hoà bình như không thể bước qua lời nguyền, tôi lại tiếp nối cái nghề chưa hẳn là nghề của cha ông mình. Lúc đầu, chỉ chèo giúp cho dân làng, hoặc được trả công bằng lúa, bắp, khoai, sắn…nhưng về sau thì khấm khá hơn. Đủ sống qua ngày. Từ khi có cây cầu mới kia- ông chỉ tay về hướng có những tiếng động lạ của máy móc- thì nghề của tôi xem như đã già cỗi. Cũng chèo cũng chống vất vưởng qua ngày tháng vậy thôi. Lỗi hẹn với bến rồi bà ạ….
Người đàn bà không hỏi gì thêm. Chị đang cố mà không thể mường tượng rõ hình ảnh một ông Xá trong ký ức trẻ con. Với ông, cái còn lại sau khi đã mất là một người đưa đò ăn ngủ với những con ma của bến Rì linh thiêng. Trưa đứng bóng hay khuya vắng lạnh, mỗi khi có ai chụm hai bàn tay làm loa gọi lớn đò ơi là thấy ông như mọc lên từ sông nước, lạch bạch xuất hiện với mái chèo khua nước mỗi lúc một rõ hơn. Tóc ông Xá nổi trắng toát trên nền đêm, không bao giờ chịu đứng yên trước những cơn gió cứ ưa chơi trò trêu đùa trái khoáy. Chị sợ ông Xá giống như anh Tuấn sợ ông lão hớt tóc dạo, chưa lên đò đã bắt đầu giữ cho tay chân phải nghiêm túc. Con gái con đứa phải nết na thuỳ mỵ, trên đò không phải như ngoài bãi kia đâu mà muốn đứng ngồi nhảy nhót tuỳ thích. Thế là lần nào cũng vậy, theo ngón tay chỉ đầy quyền uy của ông Xá, chị ngồi im thít ở một góc đò lổn ngổn đồ ăn thức uống. Ở góc đối diện, đứa cháu nội của ông tay đang múc từng gáo nước nhỉ vào lòng thuyền, đưa mắt liếc nhìn chị. Được điều, ngó vậy mà ông Xá rất tốt bụng với mọi người. Chị còn nhớ, ngày theo anh Tuấn rời bến Rì nhốn nháo để tản cư khỏi làng, chính ông Xá và đứa cháu nội như hủ mắm treo đầu giàn đã tiễn chị lên khỏi con dốc đất đổ xuống bến và dúi cho chị mấy trái ổi trắng giòn, to hơn nắm tay. Hồi đó trong làng dễ mấy ai cũng có được trái ổi giống mới chỉ nhìn đã thấy thèm.
-Bà về đây là để thăm người thân hay có việc chi?
-Không, tôi không còn một người thân nào ở Lâm Yên cả. Cũng không có công việc gì quan trọng. Vượt hàng ngàn cây số tôi về đây chỉ là để tìm lại cái bến Rì hơn ba mươi năm trước…..
Người đàn bà định nói thêm: và một lời hứa hẹn vu vơ, nhưng đã kịp dừng.
-Chắc là bà có nhiều kỷ niệm với nó?
-Chưa hẳn thế, bởi vì khi tôi bắt đầu hiểu về nó, yêu mến nó thì cũng là lúc phải bắt đầu xa nó….
Ánh sáng và bóng tối đều đang dịch chuyển, bắt đầu từ bến Rì trôi ngược lên chóp núi Ấn. Vầng trăng non từ lúc nào đã núp vào bụi tre bên bờ sông để trộm nghe câu chuyện giữa ông lái đò và người khách lạ. Có phải họ đã nhận ra nhau từ một lần chơi trốn tìm xa ngái hay trong ký ức mù mờ của một chuyến đò ngang? Họ đã quên hay vừa nhớ lại lời hứa vu vơ nào đó không đủ sức tồn tại với chiến tranh? Nhưng sao họ lại chỉ im lặng nhìn nhau mà chẳng nói gì thêm với nhau? Lâu sau ông lái đò mới nhã nhặn mời khách về nhà mình để nghỉ qua đêm. Khách đồng ý nhưng xin được ngồi lại với bến Rì cho đến khi có đủ trăng. Ước mơ nhiều khi chỉ giản đơn như thế đấy, giản đơn đến không ngờ. Chị chỉ cần có vậy thôi đối với một chuyến đi dài hơn ngàn cây số.
Đêm. Bến Rì đang bắt đầu đời sống riêng với bài ca muôn thuở của lũ côn trùng trên cạn dưới nước. Thiếu tiếng chiếu giặt đập bì bộp và tiếng trẻ con reo đùa. Nhưng dẫu sao thì bến Rì vẫn nguyên vẹn còn đó. Chiến tranh hay hoà bình, bến Rì còn hay mất, cây cầu bê-tông trên cao kia có hay không, lúc còn nhỏ hay khi đã ở vào cái tuổi sắp tri thiên mệnh như chị bây giờ, bến Rì vẫn tồn tại một bản hoà tấu riêng quen thuộc. Có thể một cung bậc nào đó bị khuyết mẻ hay mất đi, có thể những cung bậc mới đã thay thế hay đang vặn mình để thay thế, nhưng rồi chị vẫn nhận ra sự ngân vang của nó, như nhận ra chính mình giữa bộn bề công việc làm ăn và gia đình. Ngồi với sông với bến và đêm thế nầy, chị càng cảm thấy mình như được gạn lọc các chất tạp để được còn lại là chính mình, giống một nghệ nhân miệt mài uốn tỉa để có được cái dáng cây ưng ý. Trăng trên cao, núi rừng sau lưng, sông bến phía trước và cả phố thị ngày ngày cuốn chị vào một vòng xoáy vô hình nào đó đều đang vận hành dữ dội để được có mặt tại đây, tại cái bến Rì gần nửa đời gặp lại. Và chị, một chấm nhỏ giữa cát mờ đục và mênh mông đất trời, là điểm ngưng tụ.
-Tôi chờ bà….
Người lái đò vừa nói vừa thong thả bước nhẹ về phía sông. Những dấu chân trên cát đọng những vùng tối mờ ảo. Thuyền chầm chậm rời bến rồi ngược dòng. Mọi tiếng động đều rất khẽ, như không muốn phá vỡ khoảnh khắc giao hoà giữa tơ trời và tơ lòng . Thuyền không khách, chẳng biết rồi ông sẽ bơi về đâu. Dáng ông cao cao nghiêng nghiêng nổi một phần trên nền trăng đã rải đến tận bãi cát đầu cầu.
Chỉ còn lại mình chị, với đêm, với trăng, với cái bến Rì năm xưa, và lời hò hẹn trong tâm tưởng. Thì đêm nào cũng có gái trai hẹn hò nhau, cứ rủ rỉ rù rì cả đêm nên gọi là bến Rì chứ sao? Có phải như cách giải thích của ông Sang giỏi kể chuyện tiếu lâm nhất làng hay không mà suốt đời chị cứ bị ám ảnh? Ít ra thì ông Sang cũng có phần đúng, chị đã từng theo mấy người lớn tuổi hơn đi rình nghe những cặp tình nhân nói chuyện với nhau bên những bụi Rì không đủ sức che giấu họ. Có lúc lộ chân tướng bị cát níu chân chạy không nổi vẫn phải chạy. Còn những lúc không bị lộ cũng có nghe được họ nói gì đâu. Nếu không bị gió núi, tiếng sóng hay tiếng côn trùng đồng loã át đi thì cũng chỉ nghe rủ rỉ rù rì thật, như đôi chim câu mớm tình cho nhau trước giờ hưởng lạc. Rồi đến lượt chị, khi đã biết buồn vui vì một lời hứa, dù rất vu vơ, thì cái bến Rì thuộc về ký ức tuổi thơ bỗng có một vòng cầu vồng ngũ sắc vắt qua. Nhìn thấy đó, đẹp lắm, mà không biết nó có mặt lúc nào, bắt đầu từ đâu, kết thúc ở đâu. Phải vậy chăng mà một đời lỗi hẹn, thứ ngôn ngữ không thành ngôn ngữ ấy cứ bám theo, ám ảnh chị đến ray rứt bần thần, cả những lúc buồn nhất hay vui nhất với công việc làm ăn, tất bật tranh sống.
Mờ đục sương đêm đã nuốt chững cái bóng của người lái đò. Nhìn theo hướng ấy, chị chỉ còn thấy những lá Rì đuối trải lót chỗ ngồi, những thân Rì cây cố trườn người vươn bóng để che giấu cho đôi tình nhân yên bình trò chuyện. Bóng của họ khi thì hai, lúc lại nhập vào nhau, tiếng cười của họ trong như sông buổi sáng, lãng mạn như bến về khuya. Chị, đứa con gái mười tuổi, vẫn không giấu được những thoáng xao xuyến, đỏ mặt khi nghĩ đến cái ngày mình sẽ lớn lên như những anh chị gái trai trong làng….
Lớn lên anh sẽ đưa em ra bến Rì. Bằng lòng lấy tôi, em sẽ có tất cả: giàu sang, quyền lực, địa vị xã hội….Để xem anh nhảy từ nhánh cây thị ùm xuống sông, mang theo vào bờ hương thị thơm lừng? Tình yêu, làm gì có tình yêu. Cô lầm rồi đó. Không, không phải,…nhưng mà…ừ,… đúng rồi! Ngày mai cô phải nói với mọi người rằng, cái vết bầm trên mặt là do cô sơ ý bị ngã….Và anh sẽ nói với em rằng, có một đôi tình nhân đang hò hẹn bên gốc Rì đằng kia. Không đúng sao mà cô ngồi thừ cái mặt ra đó? Còn uy tín xã hội của tôi, còn sự nghiệp mà cả đời tôi đã dày công tạo dựng….Đi-anh cầm bàn tay lần đầu biết run- ta đến đó đi em….
Chị giật mình, không phải quá khứ-hiện tại đang đối thoại. Không phải một mình chị đang ngồi với sông, với đêm. Có tiếng mái chèo khua nước trở về, rất nhẹ. Trăng đã tràn không gian. Dáng người lái đò hơi nghiêng, nổi cao khều trên nền trăng mờ đục. Một cây Rì tua tủa cành, lá lóng lánh sắc màu trăng huyền ảo, đang nằm trong lòng thuyền.
Bến Rì, sóng xao dịu nhẹ….



Tiêu Đình 

459/ Một số dàn ý đề bài NLVH xoay quanh bài thơ Bếp Lửa


             “...Thơ là chiều sâu, là sự chắt lọc, kết tinh ” ( Nguyễn Văn Hạnh). Từ đó em hãy trình bày cảm nhận của mình về chiều sâu suy ngẫm trong đoạn thơ sau:
 Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa !

Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
 - Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?
                                           ( Trích ‘‘Bếp lửa’’ - Bằng Việt , Ngữ văn 9 - Tập 1
         
Luận điểm 1:  Suy ngẫm vê hình ảnh bếp lửa và ngọn lửa:
         - Từ bếp lửa cháu suy ngẫm về ngọn lửa. Điệp từ , giọng thơ xúc động.........gợi chiều sâu của cảm xúc : từ bếp lửa bà nhen đã sáng bừng lên ngọn lửa bất diệt ngọn lửa của tình yêu thương, của niềm tin bền bỉ
Luận điểm 2:  Suy ngẫm sâu sắc về hình ảnh người bà gắn với bếp lửa và thể hiện tình yêu thương của cháu:
             - Giọng  thơ sâu lắng bùi ngùi mang đầy hoài niệm suy tư....Hình ảnh bà hiện về qua hồi ức vẫn dáng vẻ tảo tần, chịu thương chịu khó lặng lẽ hi sinh cả một đời cho gia đình, cho cháu con...
           - Bà không chỉ nhóm bếp lửa bằng rơm rạ mà bà còn nhóm lên trong cháu bao niềm yêu thương, nhóm lên bao nghĩa tình, và đặc biệt bà còn nhóm dậy cả trong cháu những ước mơ hoài bão, khát khao của tuổi thơ, bà đã mở rộng tâm hồn cháu bằng ngọn lửa ấm áp của trái tim bà.  Điệp từ nhóm  kết hợp với nhịp thơ nhanh gợi ra bao cảm xúc dạt dào,...
            - Cảm xúc ấy sáng bừng lên chất trí tuệ, hình ảnh bếp lửa đã ngang với điều kì diệu thiêng liêng
 Luận điểm3:. Niềm thương nhớ của cháu : 
            - Kết thúc đoạn thơ là câu hỏi tu từ, hình ảnh thơ giàu sức gợi đã thể hiện sâu sắc vẻ đẹp tâm hồn nhà thơ.

               - Từ  việc lưu giữ kỉ niệm cùng cảm xúc trào dâng cuối cùng kết đọng lại thành tâm niệm suy tư, thành điểm tựa tinh thần và từ tình cảm gắn bó với người bà đã được nâng lên thành tình yêu thương gắn bó sâu sắc với quê hương, đất nước.  


         Bàn về bài thơ “Bếp lửa”của Bằng Việt có ý kiến cho rằng: “Bài thơ biểu hiện một triết lí thầm kín: Những gì là thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người, đều có sức tỏa sáng, nâng đỡ con người trên hành trình dài rộng của cuộc đời .”
        Em hãy phân tích bài thơ để làm sáng tỏ nhận định trên? 


-Thân bài:
+Giải thích lời nhận định:
Những gì là thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người: là những người thân trong gia đình, thầy cô, bạn bè, hay những kỉ niệm.....gắn bó sâu sắc với chúng ta.
Đều có sức tỏa sáng, nâng đỡ con người trên hành trình dài rộng của cuộc đời: Trở thành điểm tựa, nguồn động lực, tiếp sức cho ta trên mỗi bước đường đời.
+  Phân tích bài thơ để chứng minh theo hai luận điểm:
*Trong bài thơ “Bếp lửa” những gì là thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người chính là bà, là bếp lửa, là những kỉ niệm với bà, với bếp lửa......(Có dẫn chứng+ phân tích)
*Bài thơ có sức tỏa sáng, nâng đỡ con người trên hành trình dài rộng. Bà với tình yêu thương, đức hi sinh, niềm tin yêu cuộc sống; Bếp lửa với sự ấm áp, thân thiết.....là chỗ dựa cho cháu, nhen lên trong cháu những tâm tình, những niềm tin. Khi cháu lớn lên, học tập và công tác nơi xa, bà và bếp lửa vẫn là điểm tựa, là nguồn động viên, là nơi nâng đỡ...... (Có dẫn chứng+ phân tích)
*Suy rộng ra, điều đã tạo ra sức tỏa sáng, sự nâng đỡ người cháu trong bài thơ chính là quê hương, đất nước.

Phân tích đoạn thơ sau :
"Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
.......
Ôi kỳ lạ và thiêng liêng bếp lửa!"
Gợi ý:
          * Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vị trí, nội dung đoạn thơ:Những suy ngẫm sâu sắc của tác giả về người bà, về bếp lửa.
          * Thân bài:
          - Suy ngẫm của người cháu về bà (7 câu đầu)
          + Đó là sự tần tảo, đức hi sinh, tấm lòng yêu thương sẻ chia của bà, hình ảnh bà luôn gắn với hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa (HS cần căn cứ vào cụm từ chỉ thời gian: đời bà, mấy chục năm, từ láy tượng hình: lận đận, hình ảnh ẩn dụ: nắng mưa).
          + Bà đã nhóm dậy những gì cao quý, thiêng liêng nhất của một con người: nhóm niềm yêu thương, niềm tin, nghị lực.
          - Suy ngẫm của người cháu vì bếp lửa, ngọn lửa (câu cuối) hình ảnh bà gắn với bếp lửa, ngọn lửa. Bếp lửa vốn thân thuộc trong mỗi gia đình bỗng trở lên kỳ lạ bởi ngọn lửa bà nhóm lên từ chính ngọn lửa trong lòng bà, ngọn lửa của sức sống, niềm tin ® bếp lửa kì diệu thiêng liêng có sức toả sáng nâng đỡ tâm hồn cháu trong suốt cuộc đời.
          * Kết bài: Suy nghĩ và ước mơ của tác giả.

Cảm nhận của em về tình bà cháu và bếp lửa trong bài thơ" Bếp lửa" của Bằng Việt.
Gợi ý:a. Mở bài: Giới thiệu chung về tác giả và bài thơ với tình bà cháu thiêng liêng, ấm áp.
b. Thân bài:
- Hình ảnh Bếp lửa khơi nguồn cho cảm xúc về bà
- kỉ niệm của tình bà cháu gắn liền với Hình ảnh bếp lửa
                        Lên 4 tuổi,
                        Tám năm ròng,
                        …giặc đốt làng
Đó là thời điểm từ bé đến lớn, ký ức về nỗi cay cực đói nghèo.
- Hình ảnh người bà và bếp lửa trong nỗi nhớ của người cháu, đó là người bà chịu thương chịu khó, giàu đức hy sinh
“Rồi sớm rồi chiều…
  Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn
……………chứa niềm tin dai dẳng”
-> Ngọn lửa của trái tim con người, của tình yêu thương mà người bà truyền cho người cháu, ngọn lửa của niềm tin, của hy vọng.
- Bếp lửa là hình ảnh của cuộc sống thực đầy vất vả nhọc nhằn của hai bà cháu, và là hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng cho tình bà ấm áp.
- Hình ảnh bếp lửa là sự nuôi dưỡng, nhen nhóm tình cảm yêu thương con người, thể hiện nỗi nhớ, lòng biết ơn bà, khơi gợi lên cho cháu một tâm hồn cao đẹp.khổ cuối
c. Kết bài:
 Là bài thơ cảm động về tình bà cháu. Tình cảm dạt dào trong lòng đã tìm đến một giọng điệu, một nhịp điệu thật phù hợp.

 Sưu tầm và tổng hợp

        

458/ MỘT SỐ HÌNH NGÀY DỰ BUỔI GIAO LƯU BÁO CHÍ "LỬA TRÁI TIM"






Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2016

457. GIỚI THIỆU 2 CUỐN SÁCH HAY VỚI BẠN ĐỌC CỦA THIẾU NHI PHÚ NINH

Sau đây là hai bài giới thiệu sách hay của thiếu nhi Phú Ninh trong cuộc thi giới thiệu sách  do tỉnh Quảng Nam tổ chức năm 2015-2016. Em Lê Nguyễn Mai Linh và em Bùi Thị Thanh Kiều  học sinh trường THCS Lê Qúy Đôn đã giành giải nhì toàn đoàn trong cuộc thi vừa qua


GIỚI THIỆU
Cuốn  sách Phan Châu Trinh - Thân thế và sự nghiệp



Kính thưa quý vị, 
  “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới”. Phải chăng câu nói của Mac-xim Goóc-ki càng có ý nghĩa khi văn hóa đọc đang có xu hướng ngày bị sa sút? Và giữa kho sách khổng lồ liệu chúng ta có đủ tầm và tâm để chọn sách cho mình những cuốn sách hay không?  Và là người Việt Nam, bạn đã bao giờ đọc sách viết về danh nhân đất Việt chưa? Là một thành viên ruột của gia đình thư viện sách tôi xin được kính giới thiệu đến quý vị và các bạn cuốn sách viết về một chí sĩ yêu nước mang niềm tự hào của người Việt. Cuốn sách mang tên: Phan Châu Trinh - Thân thế và sự nghiệp của giáo sư Huỳnh Lý- một người con của đất Quảng Nam đã không quản gian truân tìm hiểu sưu tập tư liệu để làm nên tác phẩm.
Kính thưa quý vị bạn đọc,
Cuốn sách do nhà xuất bản Trẻ in với hình bìa đơn giản nhưng lại thật ấn tượng bởi màu xanh ẩn dụ về sức sống trong lòng bao thế hệ của một chí sĩ yêu nước từ thế kỷ 19. Chân dung cụ Phan hài hòa trên nền xanh trông rất đạo mạo và thần thái. Trang bìa sau thật cuốn hút bởi hình ảnh của khu tưởng niệm cụ Phan tại Thành phố Hồ Chí Minh trang trọng mà cũng rất đẹp mắt đó các bạn à.
Các bạn biết không? Cuốn sách có 290 trang gồm 6 chương được viết theo trình tự cuộc đời sự nghiệp của cụ Phan khi đất nước gặp cơn nguy biến cho đến những năm tháng cuối cùng của một chí khí anh hùng đầy nhiệt huyết. Mỗi chương đều có chú thích đầy đủ, dễ hiểu. Ngoài ra, người đọc còn được sáng mắt, sáng lòng bởi phần Tổng luận, phần Giới thiệu Phan Châu Trinh qua hội thảo toàn quốc ngày 8-9-1992, Phan Châu Trinh niên biểu…
Chắc chắn không bạn đọc nào có thể cưỡng lại được sức cuốn hút của tác phẩm. Những câu văn làm tựa đề cho các chương đã khái quát bằng những hình ảnh giàu sức biểu cảm “Vận nước gặp cơn dâu biển… Lòng người đâu áo mão xênh xang”, “Cụm núi Côn Lôn đúng vững trồng”, “Trời Tây nay một con chèo”,… về những chặng đường gian truân trong cuộc đời nhà chí sĩ. Có lẽ trong thâm tâm nhiều bạn đọc cho rằng sách viết về nhà yêu nước thì làm sao tránh được sự màu sắc chính trị nặng nề. Nhưng không! Bạn sẽ thật sự yêu thích ngay từ những trang đầu của chương một bởi cách tóm tắt ngắn gọn, rõ ràng,  lối viết sinh động dựa trên tư liệu chân thực kết hợp tự sự với bình luận và vẫn giàu chất văn.
Những dòng đầu tiên của chương một gây ấn tượng bởi cách mượn những câu văn tế của Phan Bội Châu khi cụ Phan Châu Trinh mất phác họa quãng đời thiếu tráng và  tính cách, chí hướng của người chí sĩ. Và người đọc thật ngỡ ngàng khi tất cả đã được ngược dòng tái hiện. Vùng đất Tây Lộc, Hà Đông này là xã Tam Lộc, Phú Ninh, Quảng Nam, năm 1872 đã sinh ra một Phan Châu Trinh. Trưởng thành từ trong nỗi đau của gia đình quê hương và dân tộc, ông quan Thừa biện ở Bộ lễ họ Phan ngang tàng, ngạo nghễ nhạy bén sâu sắc với thời cuộc, có tài văn chương đã sẵn sàng từ bỏ chốn quan trường quyết tâm cứu nước bằng con đường Duy tân.
Và đây, “Ngọn cờ Duy tân chấn hưng dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh” của cụ Phan là điểm nhấn của chương hai tác phẩm khiến người đọc hứng khởi, say sưa theo dõi. Không gian, thời gian của tác phẩm được mở rộng khi hình ảnh cụ Phan được đặt trong bối cảnh chung của dân tộc gắn với những nhân vật lịch sử như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Trần Qúy Cáp và những phong trào yêu nước giai đoạn lịch sử cuối thế kỉ 19.  Cùng với những dòng kể và bình luận về phong trào mở trường lớp, học tập được phát triển toàn diện là những vần thơ phú, là nội dung bức thư gửi chính phủ pháp của cụ gợi không khí một thời xôn xao sĩ tử, làm xanh mặt kẻ thù làm bừng lên ngọn lửa ngùn ngụt căm hờn của một thời phong trào chống thuế ở Quảng Nam và miền Trung. Và cái kết cục cụ Phan bị chính triều đình Huế vu oan và bị thực dân Pháp bắt lại đã cuốn hút người đọc tìm đến với chương tiếp theo.
Chương ba, bốn, năm đã tái hiện hình ảnh của người chí sĩ hiên ngang khẳng khái, tràn đầy nhiệt huyết Duy tân từ 1908 đến 1925. Với nhân chứng và tư liệu lịch sử chính xác, câu chuyện về cụ trong những năm tháng tù đày ở đất Côn Lôn và những năm tháng gian truân trên đất Pháp đã khắc sâu vào lòng người. Tác giả còn trích dẫn lời thơ tâm phúc của cụ Huỳnh Thúc Kháng về con đường đi của cụ Phan mà người cùng thời không phải ai cũng hiểu. Và cũng thật thú vị khi đọc những vần thơ nơi trong ngục tối - trích từ 220 bài thơ trong “Tây Hồ và Xăng tê thi tập” – mang tâm sự nỗi niềm và chí khí của nhà thơ yêu nước. Nỗi lo âu và niềm hào hứng chí khí của cụ Phan làm nên những bản điều trần mạnh mẽ cũng như áng văn tuyên ngôn có ý nghĩa khai sáng dân tộc của chủ nghĩa  Duy tân thực sự lôi cuốn độc giả.
Năm chương khiến người đọc không muốn dừng lại để rồi muốn tìm hiểu năm tháng cuối cùng của người chí sĩ “Ngậm đá biển đông chim hết sức” trong năm 1925 -1926 ở chương sáu. Vâng! như cánh chim muốn bay giữa muôn trùng biển lớn nhưng đành lực bất tòng tâm. Hai cuộc diễn thuyết lớn ở Sài Gòn  đã thể hiện ý chí khát vọng không mệt mỏi của Cụ. Và rồi những trang văn dường như chậm rãi, trân trọng báo trước một điều không lành nhưng người đọc vẫn thấy đau đớn trước sự ra đi của Người trong “tang lễ trọng thể và rầm rộ”mang niềm đau đớn ngưỡng mộ của bao người Việt..
Với bố cục chặt chẽ, lối trình bày khoa học, lối viết sinh động, dẫn chứng cụ thể toàn diện tiêu biểu, phần chú thích rõ ràng chính xác, phần tổng luận sâu sắc…   và sự hài hòa về hình thức và nội dung sẽ khiến nhiều bạn đọc chúng ta đọc không muốn dừng, đọc bằng cả trí tuệ và tâm hồn, đọc đi đọc lại. Có thể, ở vài câu chữ, tuổi thơ chúng ta không hiểu hết. Nhưng chắc chắn đọc tác phẩm ta như hình dung được một thời đau thương hào hùng của dân tộc. Cảm ơn giáo sư Huỳnh Lý đã khơi gợi trong chúng ta niềm tự hào về cụ Phan - người con xứ Quảng chính tấm gương sáng chói về lòng yêu nước thương dân, hy sinh mọi riêng tư và có dũng khí đấu tranh vì lợi ích chung một nhà nho yêu nước chân chính với tư tưởng “Chi bằng học” vô cùng tiến bộ. Đặc biệt, cuốn sách đã khắc dấu ấn sâu sắc bởi ngọn cờ Ngọn cờ Duy tân chấn hưng dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh” của cụ Phan đó các bạn à. Ngọn cờ ấy kích thích thế hệ trẻ tinh thần ham học tập, mở mang tri thức để rèn đức, luyện tài góp phần xây dựng quê hương, đất nước giàu mạnh. Và  đó là nền tảng để những người chủ nhân tương lai chúng ta sẽ làm nên sức mạnh giữ vững chủ quyền biên giới, biển đảo thiêng liêng của tổ quốc trước mọi âm mưu của kẻ thù ngoại bang.  
Hãy đừng quên văn hóa đọc. Hãy đến thư viện tìm đọc cuốn sách quý: Phan Châu Trinh - Thân thế và sự nghiệp của tác giả Huỳnh Lý các bạn nhé. Chân trời mới” như lời của Mac-xim Goóc-ki mà cuốn sách mở ra cho chúng ta là vô cùng xán lạn phải không các bạn?
                                                                                                  


                                              GIỚI THIỆU
                              Cuốn  sách Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh

 Kính thưa quí cô chú cùng toàn thể bạn đọc!
 Có ai đó nói rằng “Tuổi thơ thời nay đã khác xưa”. Vâng điều khác biệt đó có thể là  tuổi thơ của chúng em hôm nay có không gian hiện đại, hoành tráng với công viên, siêu thị và với những thú nghe nhạc, chơi game…còn tuổi thơ xưa chỉ có không gian miền quê với  những trò chơi dân dã. Nhưng cái vẻ đẹp của nét hồn nhiên, trong sáng, đáng yêu hay cái thói ích kỉ xấu xa, len lỏi trong  cái  góc khuất nào đó thì phải chăng tuổi thơ thời nào cũng có? Cuộc sống thường nhật với những tình cảm riêng đôi khi mang cái tôi nhỏ bé.  Có khi nào làm cho ta trở nên ích kỉ, thấp hèn, thiếu ý chí, niềm tin  mà ta không biết? 
 Làm  sao để cái tâm trở thành điểm tựa trong tâm hồn để ta biết sống cho đi? Để trả lời câu hỏi đó xin mời các bạn và quý cô chú đến với cuốn sách Tôi thấy hoa vàng  trên cỏ xanh của tác giả Nguyễn Nhật Ánh - tác phẩm đạt giải văn chương ASEAN năm 2010 đã chuyển thể thành phim đạt giải Bông sen vàng.


Chắc chắn bạn đọc sẽ thích ngay cuốn sách từ ánh nhìn đầu tiên bởi trang bìa bóng láng với sắc xanh tươi tắn làm nền cho hình vẽ tượng trương cho tựa đề tác phẩm đồng quê nhưng mảng màu vàng đỏ xanh của cuộc sống tuổi thơ hòa quyện. Trang bìa sau trích một đoạn văn có nhân vật Mận và “tôi” rất đổi dễ thương trong tình cảm luyến ái, trong sáng tuổi mộng mơ.
          Sách gồm 81chương trong hơn 300 trang. Những con số choáng ngợp ư? Bạn đừng vội nản. Mỗi chương chỉ vài trang và có xen hình ảnh minh họa trắng đen rất có hồn. Cái tên chương rất ngắn, rất dễ nhớ. Cái tên gợi những nhân vật: “Chú Đàn”, “Thằng Tường”, “Chị Vinh”, “Thầy Nhãn”, “Ba con Xin”, “Ba con Mận”… Cái tên gợi những câu chuyện nhỏ khó quên: “Hoa tay”, “Cóc tía”, “Chuồn chuốn cắt rốn”. Và đôi khi mang cái cảm  xúc của người trong cuộc “Em ơi nếu mộng không thành thì sao”, “Tôi ngứa mắt”, “Tôi hối hận”. Thế đấy, những cái tên rất giản dị gần gũi như chính câu chuyện tuổi thơ như chính cách cảm, cách nghĩ chân thực dễ đi vào lòng người.
                            "Ngồi im trong gió nghe đêm rớt
                           Chợt thấy hoa vàng trên cỏ xanh..."
          Câu thơ mở đầu mang linh hồn của truyện đấy! Không vần điệu, nhưng giàu hình ảnh và xúc cảm khiến cho người đọc phải lặng mình muốn đọc muốn hiểu.
         Lần bước theo từng chương sách bạn như được phiêu du trên một miền quê nhỏ phát hiện những điều kì bí, được gặp những người lạ rồi trở nên quen và thân thiết tự bao giờ. Vâng, từng con người thôn quê dân dã hiện ra nhờ nét chữ đặc tả sống động của Nguyễn Nhật Ánh, từ những cô cậu học trò ngây ngô, đến những bác nông dân chất phác! Phải chăng vùng quê Thăng Bình - Quảng Nam  và những kỉ niệm tuổi thơ của chú Nguyễn Nhật Ánh  đã đi vào từng trang truyện? Đó là tuổi thơ của thôn quê với việc đi bắt ve sầu, chuồn chuồn, hái hoa dủ dẻ…Tình anh em của Tường và Thiều, tình cha con của con Nhi và ông Tám Tàng. Tình yêu của chú Đàn với chị Vinh,…Từng nụ cười, giọt nước mắt, từng niềm vui, nỗi đau đều rất gần, rất thật.
            Các bạn có biết, nhà văn thật tinh tế khi vẽ một bức tranh về thân phận con người trong kiếp sống qua cái nhìn trẻ thơ. Đó là chuyện gia đình nhân vật chính với ông bố  lại có cái thú thích làm vè "Trúng số cứ tưởng trúng bom”/ Hết ôm cây cột tới ôm nợ nần". Nóng tính, nghiêm khắc với các con, ông cũng là người lo gia đình - lên thành phố  vất vả mưu sinh. Và có một người mẹ chịu thương, chịu khó lặn lội thân cò theo xe tải đi buôn củi  để cho lo thêm bữa ăn đủ chất. Rồi còn là tình cảnh tội nghiệp của Mận khi ba bị bệnh, tiệm tạp hóa của mẹ bị cháy rụi. Rồi mối tình thắm thiết vượt qua sự  ngăn cấm giữa chị Vinh và chú Đàn, vì "tay chú bị cuốn vào cối xay mía, dập nát, bác sĩ phải cưa bỏ".  Hay có cả nỗi “sầu não" của ông Tám Tàng khi đứa con gái đang tuổi lớn bỗng không bình thường sau một tai nạn khi coi xiếc... Những phận người có thể lâm vào hố sâu của vực thẳm nhưng vẫn tìm được con đường để vươn lên. Điều gì đã làm nên sự kì diệu ấy?  Chính là nghị lực và tình yêu thương. Một lẽ sống đẹp nhắc nhở chúng ta hay biết đối mặt với gian truân để trưởng thành phải không các bạn?
          Linh hồn của của câu chuyện là những trang nhật ký về cuộc sống thường ngày và tâm tư của cậu bé Thiều - nhân vật chính xưng tôi - học sinh lớp 7 cùng với người em trai tên Tường với  những trò chơi dân gian bình dị và nhiều kỷ niệm thơ ấu. Tình cảm Thiều dành cho cô bạn cùng xóm thật đẹp. Nhưng rồi chính lòng ích kỷ, ghen tức, đố kỵ khiến Thiều tiếp tay cho kẻ xấu và  đã vô tình hại đến chính em trai mình. Còn Tường, dường như sinh ra để hy sinh và nhường nhịn người khác và cuộc đời đã không phụ tấm lòng của cậu. Thiều cố để có được tất cả nhưng cuối cùng liệu cậu có đạt được không? Cách giải quyết vấn đề của nhà văn  Nguyễn Nhật Ánh không ngoài tính nhân văn và những thông điệp ý nghĩa đó các bạn à. Kết thúc mở gợi trong người đọc một bài toán cần giải đáp như lời bình của Nguyễn Quang Lập  “Ai cũng vậy thôi, ít nhất một lần trong đời gây khổ đau cho người khác vì sự vô tâm, tắc trách của mình. Chìa khóa sống vì nhau đã giúp tâm hồn con người tìm về những nỗi ăn năn để thao thức cùng với nó”.
        Kính thưa quí cô chú cùng toàn thể bạn đọc! Truyện còn cuốn hút bởi ngôn từ giản dị, lời kể chậm rãi, giọng kể chân chất mà cũng dí dỏm trong chuỗi câu chuyện cảm động mà vui nhộn lại có lúc kì bí, hấp dẫn. Tất cả  làm nên “một bức tranh kỳ diệu về cuộc sống”. Đừng bao giờ có một tuổi thơ đẹp mà vẫn có những chuyện không muốn nhớ! Và đừng sống tuổi hồn nhiên  thiếu khát khao, thiếu  tấm lòng để rồi  hối lỗi! Hãy  tự tin ở chính mình để đối mặt với con đường đời không ít chông gai.  Nhưng “Trái tim hoàn thiện là trái tim có nhiều mảnh vá” đó các bạn à. Khi  bạn dành được những giây phút để đọc cuốn truyện dài này, chắc chắn bạn sẽ trở trăn, đồng cảm sẻ chia, biết tin yêu và lạc quan từ những trải nghiệm sống quý giá, những cảm xúc sâu lắng cùng nhân vật để biết rơi nước mắt vàt nở nụ cười với cuộc đời đang đón đợi. Mong rằng quý bạn đọc đừng bỏ qua những điều kỳ diệu như “hoa vàng” tưoi thắm “trên cỏ xanh” mà Nguyễn Nhật Ánh đã gửi vào cuốn sách dấu yêu này các bạn nhé!    

Hè 2016



      
       



Thứ Tư, 20 tháng 7, 2016

456/ MỘT VÀI HÌNH ẢNH KỈ NIỆM HÀ NỘI


          Dạy Văn là công việc đòi hỏi niềm đam mê và học hỏi không ngừng . Có thể mình đã mắc căn bệnh thành tích. Nhưng có mắc một chút cũng được. Vì có vậy mới có  những  niềm vui bất ngờ .








455/ MẸ KHÓC


            Nguyễn Tấn Ái

          Tôi tự hào về mẹ tôi, về bản lĩnh làm mẹ. Thật sự chị em tôi đã được mẹ dạy phải sống kiên cường như thế nào tự lúc nào mà không tự biết.
          Cha mất để lại mẹ với sáu người con, một chị đã có chồng, em út tôi chỉ vừa lên 9 và mẹ mất sức sau nhiều trận đau băng huyết.
          Không thật nhớ nhiều, chỉ nhớ mẹ lúc nào cũng giọt giọt mồ hôi, và cười rất to.

          Từ ngày cha mất, trong câu chuyện với những người hàng xóm, mẹ như lí sự nhiều hơn. Cha tôi ngày xưa cũng rất hay lí sự.
          Nếp sống trong gia đình không có gì thay đổi.
          Cha là ông giáo, mẹ là nông dân.
          Duy chỉ một lần mẹ khóc.
          Sau ngày cha mất, chừng một tháng, tôi hãy còn là một đứa trẻ con, hay nghịch đùa, như cái sự mất cha chẳng là mất mát gì nhiều với tuổi thơ.
          Đâu biết rằng chính cái tuổi ngây thơ ấy làm mẹ đau lòng nhiều lắm.
          Mẹ cầm cây roi dọa đánh, tôi vọt chạy ra sau hè. Mẹ đuổi theo tôi. Mẹ vấp cây củi sau hè, bàn chân mẹ chảy máu. Và mẹ đã ngồi khóc. Tiếng khóc tấm tức, nghẹn ngào. Tôi thật lo sợ, không ngờ đã làm cho mẹ buồn thế.
          Đến bây giờ tôi biết không phải tôi đã làm cho mẹ đau, cho mẹ buồn đến thế.
          Mẹ khóc vì tiếng khóc tích tụ, vì đã bao lâu rồi, từ ngày cha đi, mẹ không có quyền được khóc.
          Mẹ sợ tiếng khóc của mẹ sẽ làm vỡ bờ đê ngăn chắn sự đau thương yếu đuối. Mẹ sợ các con sẽ khóc to hơn khi nhìn mẹ khóc. Mẹ sợ cha đi rồi, mẹ khóc thì lấy ai dỗ các con. Mẹ ghìm tiếng khóc.
          Và cái cây củi chắn ngang đường mẹ đã khơi đúng vào cái đau thương dồn chứa. Mẹ đa ngã quỵ đã vỡ òa đang khi mẹ sơ hở nhất, khi mẹ chưa vun đủ tinh thần chống chọi. Và mẹ đã khóc.
          Trận chiến khốc liệt quá dài ngày khiến mẹ thất thủ, và mẹ đã khóc.
          Là tiếng khóc của người vợ mất chồng, của người bệnh mất người chăm sóc, của người mẹ nhìn các con mồ côi, của người góa bụa cô đơn trong thời buổi cái đói rập rình, của người mẹ luôn kiêu hãnh phút chốc thấy mình yếu đuối lo cho các con thiếu cơm thất học…
          Tiếng khóc mẹ nghẹn ngào tấm tức!
          Duy một lần mẹ khóc. Rồi tôi lại thấy mẹ giọt giọt mò hôi, tiếng cười sảng khoái, và rất hay lí sự.
          Nề nếp trong nhà lại như xưa.
          Chỉ khác một điều, chị ba khổ cực nhiều hơn. Chị là con gái lớn trong nhà khi chị hai đã có chồng.
          Anh tôi vẫn nghịch ngợm. Hàng xóm nói chỉ có bà Duy mới trị nổi thằng Ân.
          Tôi vẫn chăm học và mít ướt.
          Em tôi vẫn ham chơi trò bắn bi.
          Sau này khi nhớ mẹ, tôi đã viết Chuyện mẹ tôi, trong câu chuyện chỉ có nụ cười.
          Sau này nhớ em tôi, tôi viết Tết à ơi, trong đó đôi mắt em tròn trong như những hòn bi.
          Mẹ đi xa lắm và lâu lắm rồi. Tôi chính thức mồ côi cả cha lẫn mẹ đã tròn mười năm rồi.
          Mà mẹ vẫn còn ở với các con.
          Chị hai giống mẹ ở cái tính tủi buồn thầm kín.
          Chị ba giống mẹ ở giọt giọt mồ hôi. Và hay lí sự.
          Chị bốn giống mẹ ở giọng cười sảng khoái.
          Các con trai đều rất giống mẹ ở giọng cười. Ở cái tính chịu đựng không thèm kêu rên. Ở niềm tự kiêu thầm lặng và rất dễ bị tổn thương.
          Và không hề khóc.
          Mẹ à, làm sao để giòng máu này y chang nguyên hình ở các cháu. Để các cháu của mẹ cũng can trường như mẹ? Khi mà gióng tầm mắt nhìn ra xa, chín mười năm nữa, đường đời thật mịt mờ.
          Có cái mịt mờ nào như mẹ của con ngày xưa đâu, khi cha mãi miết về trời, thưa mẹ!
                                      Ngày thương các con và nhớ anh trai.

                                                                                         Nguyễn Tấn Ái

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2016

454/ VIỆT AN CỐ SỰ

                                       
                                                          Bút ký
                                      Núi sừng sững cũng trọc đầu mỏi mệt
                                      Huống hồ thân ta một kiếp long đong
                                                          Dương Quang Anh
         
Vẫn là cái chợ Việt An mỗi bận tôi đi về. Vẫn cái dốc Tranh đầu chợ, cái dốc Ông Đán dẫn về cuối thôn. Như cũ xưa, như không hề thay đổi, mà trong tôi như thiếu vắng điều gì, hồn cứ lang thang ngóng vọng, một vùng đất tôi vẫn đi về hay đã đi qua?
1.Chợ Việt An
Cái tên chợ Việt An không biết khai sinh tự bao giờ, chừng đâu cùng thời với cụ tổ hai dòng họ Nguyễn-Dương từ Thanh Nghệ vào đây khai phá, đã qua mười bốn đời con cháu, quê tổ chừ cứ mịt mờ dằng dặc. Theo anh bạn làm bên cơ quan bảo tồn văn hóa di sản thì thời gian chừng 375 đến 400 năm thì phải. Từ có làng mà thành có chợ. Hai làng đầu tiên là Đồng Nghệ họ Nguyễn, Đồng Chùa họ Dương. Tuy nhiên, câu chuyện của người làng bao giờ cũng cái tên chợ Việt An là hấp dẫn nhất. Chuyện rằng dưới chân núi Gai có cái giếng mạch, quanh năm nước trong ngần, mát lạnh, ngọt lịm. Bên chân núi có nhà ông Hương, chắc là tên tộc mà không phải là một chức danh vì tự buổi khai thiên lập địa hẳn chưa thành làng xã chức dịch. Một mồng năm như mọi mồng năm gia đình ông Hương đi hái lá rừng phơi khô làm chè, gọi là chè mồng năm, để uống quanh năm. Khi chặt nhỏ thứ lá hỗn độn phơi khô thì có con rắn trắng từ đâu cứ bò vào giữa nong lá mà nằm hóng nắng, nắng tắt cũng không đi. Nằm đủ ba hôm thì ngài Bạch Xà mới trực chỉ hướng núi mà về. Rồi thứ nước vàng sánh nấu từ nồi lá nhà ông Hương như có phép thần, uống vào chữa bách bệnh, từ nhức mỏi thông thường đến xơ gan cổ trướng, vàng da ngã nước đều nhất nhất hết biệt. Một đồn mười, mười đồn trăm, người từ bốn phương tám hướng tìm đến nhà ông Hương xin lá thuốc. Sẵn của núi, lòng lành, ông Hương trở thành thầy thuốc nam nổi tiếng. Người xin thuốc đông đến độ quần tụ nhau nghỉ chân bên dốc Tranh, đợi đến phiên mình nhận thuốc. Từ đó mà sinh ra đám người buôn bán tô mỳ gà, chén cơm cá đồng. Rồi thêm quả mít, trái bòng, dúm rau lang mà thành ra chợ. Còn vì sao mà là chợ Việt An thì tôi vẫn cứ mờ mờ mịt mịt, các cụ già trong làng lắm chữ cũng lúc lắc cái đầu tư lự mà không có lời kiến giải dứt khoát. Có lẽ là muôn sự lành đến từ bát thuốc nam chăng? Còn chữ Việt tờ (tốt lành ưu tú), hay Việc cờ (công việc, sự việc) thì nào có mắc mướu bà con gì với đám lưu dân thất học.
          Chuyện rắn thần sao mà quen quá, hình như ngài thần này đã trườn từ Bắc vào Nam trong vô vàn chuyện kể, theo bước chân khai hoang lập địa phá sơn lâm đâm hà bá của người dân, nơi đâu không có những chuyện hoang đường. Chỉ biết rằng thổ nhưỡng núi Gai quả đã sinh ra nhiều cây thuốc nam quý giá như cà gai leo, hà thủ ô, đẳng sâm, khoai mài mà đến nay như đã thành của hiếm là rất thật. Hay là ông thầy thuốc nam đã khéo mượn câu chuyện huyền hoặc hoang đường để phát huy bài thuốc gia truyền quý giá cứu độ dân nghèo? Chỉ biết rằng cái tên khai sinh cố xứ ấy đã khởi phát từ một ước vọng thật nhân hậu.
2. Lời phán truyền của thầy địa lý
          Cụ Xừ là một người già có học bảo tôi: Nghe truyền kỳ xưa đâu chừng có một thầy địa lý, ngao du tìm thế đất, cụ già người Tàu đứng trên đầu dốc Tranh mà phán bảo: Hình thế cái chợ Việt An có dáng mu rùa, đất phát chỉ một đời, của tụ rồi tán, không ai giàu cả dòng cả họ đâu, người nơi đây không phát phú mà phát kỳ. Xế trên hai xứ Đồng Nghệ, Đồng Chùa là đất văn bút, người nhiều chữ, ngạo nghễ nên muôn đời thất thế. Chỉ xế trong (nay là Hương Phố), phát tài lộc, lắm quan, song xa long mạch mà hậu không được ngọt. Câu chuyện con người phát kỳ, phát ngạo, phát quan thật có sức hấp dẫn người sau, và mỗi khi túc tắc nhớ lại những cuộc đời nơi đây, tôi lại bật cười với cái kỳ, cái ngạo.
          Đệ nhất kỳ nhân từ cái kinh lịch văn vọng hốt của tôi qua những câu chuyện truyền đời có lẽ là Ba Vọt, vua đào ngạch. Vọt là nỗi kinh hoàng cũng là nỗi ngưỡng mộ của dân trong xứ. Hễ cứ nhà nào Vọt muốn trộm là trộm được, dù là lũy tre, hào sâu, tường đá ong cũng cứ như không. Có nhà giàu thách đố Vọt trổ nghề, Vọt chỉ cười cười, bảo trộm đâu chứ nhà ông thì chịu. Rồi cứ chiều chiều đến nhà phú ông đánh chén, chuyện như thân tình. Vọt ăn nói có duyên, lại thuộc lắm câu chuyện bốn phương, cả nhà phú ông lâu ngày đâm mê tít. Bận ấy Vọt chỉ trộm mỗi một bà vợ múp míp lẳng lơ của cụ phú. Chuyện chỉ lộ ra khi Vọt chết, bà phú khóc ngất như thể chết chồng! Cũng từ nhà phú ông mà ngón đòn trộm cắp của Vọt loang ra cùng khắp. Muốn trộm nhà nào thì ít nhất liên tiếp ba hôm Vọt vờn quanh đánh động. Cứ thế mà quấy phá cho đến khi chó đực chó cái đàn bà đàn ông trong nhà canh chừng mệt lữ, đêm cuối mới ra tay thì chắc quả nhất. Với Vọt, càng lũy càng hào càng tường càng vách thì trộm càng khoái. Vọt giỏi võ nghệ, vít ngọn tre làm cần bay luôn qua khỏi lũy tre, hào sâu. Từ vòng ngoài đào ngạch mà vào trong. Ngách đào đã thông, chưa hẳn là trộm được. Có bận khi cái đầu đen vừa ló lên từ cửa ngách thì đã nghe đánh bốp, một ngọn chùy giáng xuống đầu tên trộm, song chỉ thấy bóng Vọt theo ngọn tre phóng vút ra ngoài, cái đầu đen toát hoác chỉ là cái trả đất thế mạng. Vào được nhà gia chủ là giai đoạn đầu, việc tiếp theo phải là di hình hoán đổi, bao nhiêu giáo mát dao rựa trong nhà Vọt đem dấu hết, gia chủ gia đinh trong nhà nếu có phát hiện thì cũng chỉ tay không, không làm gì nổi Vọt. Có bận chủ ông chủ bà mệt lữ nằm ngủ ngay trên rương gỗ, mặt rương thành tấm phản ngủ có nắp ở giữa. Không hề lúng túng, Vọt chen nằm vào giữa…ngủ chung. Rồi lấn bên này, huých bên kia, cho đến khi chủ ông chủ bà dạt ra hai bên, lộ ra nắp rương, Vọt cuỗm êm bao của nả. Chủ nhà mất của mà cứ chửi tổ cha thằng trộm gan lì.
          Sau Vọt trộm phải nhà một lính khố đỏ, bị đạn bắn chết, xác vắt trên ngọn tre. Có lẽ Vọt không biết vỏ đạn đồng lợi hại hơn võ nghệ. Ngẫm cũng tiếc một đời anh hào mà góc quê như chân trời không có đường bay, loay hoay nào phỉ chí, một đời lưu chốn nhân gian chỉ là trộm đạo.
          Đệ thứ kỳ nhân có lẽ là anh em nhà các cụ Hai Hườn, Bảy Nhựt. Cả hai đều xứng hàng đệ nhất võ sư võ phái Thiếu lâm Hồng gia. Hai Hườn thoát ly lên núi, sau là võ sư huấn luyện cho đặc công cách mạng, mang hàm trung tá.  Bảy Nhựt theo dân chạy loạn ra Đà Nẵng, lập võ đường, nhiều lính cộng hòa theo học, có cả Thủy quân lục chiến Mỹ. Lớp đệ tử đời thứ năm của Bảy Nhựt vẫn truyền tụng đòn biểu diễn của tổ sư: Bảy Nhựt với gốc tre khô đứng dưới lòng giếng cạn, chừng độ sâu hơn bốn mét. Lớp đệ tử giáo mác côn bổng thủ trên thành giếng. Bảy Nhựt hét vang một tiếng, cả người cả gốc tre quay tít, từ dưới vọt lên cứ như Phù Đổng Thiên Vương đánh dạt cả đám người với cả loạn côn loạn bổng đang nhất tề công xuống. Còn Hai Hườn có bận về quê biểu diễn ngón Tử yến đạp vân cả người vọt cao hơn nóc nhà trên không sử đúng thập nhị liên hoàn cước. Chuyện cứ như là võ hiệp Kim Dung!
Chuyện anh em nhà võ phái Hồng gia là một cái kết êm đềm, tuy đứa con sinh đôi đi về hai phía. Tinh thần võ đạo hay tất lòng cố hương tông tổ đã gìn giữ họ giữa bốn bề chính kiến, phải chăng?
          Lớp đệ đệ kỳ nhân thì trăm lối nghìn phách. Ông Năm Mác ra tận ngoài Bắc Thái mở nhà máy thuốc lá, giàu có nứt tiếng, xe cộ nghênh ngang. Từ bận dân làng xã muốn xuống thị trấn phải đeo người trên chiếc xe đò chạy thang cứ phập phù thì chuyện đi Bắc về Nam của Năm Mác là kỳ tích. Sau nhà máy cháy, ông Năm về quê làm ông lão hiền lành, bỏ hết cả oai phong, chỉ mỗi khi bên cốc cà phê, vui miệng ông lại khề khà kể chuyện con gái Bắc. Tám Song từ một lính dân vệ của khu dồn sau một chín bảy lăm đắc cử với đa số phiếu bầu, làm chủ một hợp tác xã to đùng, đi tham quan tận Sin-ga-po, khi mà cán bộ toàn xã phải ba năm mới được chia một xuất đi nghỉ dưỡng. Chuyện đại ca Quỳnh làm vàng sa khoáng, trúng quả đậm, chơi ngông vào tận Sài Gòn ngồi vào sòng bạc của Năm Cam…cho biết mùi đời. Chuyện lão chủ quán thịt cầy giỏi thơ ca hò vè đến độ được dân nhậu bầu làm chủ tịch câu lạc bộ thơ bán nghệ sĩ…Chuyện ông trung úy Trần Đìn gánh nước thuê, thạo cả chữ Hán lẫn chữ Tây, tự hào mình gánh nước chứ không bán nước.
          Trăn trở hoài mỗi khi đọc lại từng tên tuổi của lớp đệ đệ kỳ nhân, nhận thấy vùng quê heo hút ấy chưa bao giờ là ốc đảo bình yên dẫu đã nép mình vào sơn cước. Cuộc thế cuộc đời cứ như bàn cờ tàn của hai tay cờ hỏng, cũng lớ ngớ lao ngao, cũng ầm ì xe pháo mà nào đâu là Sở hà Hán giới, cái sĩ khí rốt lại cũng chỉ vài trò chơi ngông phá bĩnh, trăm nghìn đổ một trận cười.
3. Trận đánh Pháp đầu tiên
          Cái xứ xưa thâm sơn cùng cốc luôn là địa bàn hoạt động của phe nhóm trộm cướp cũng là xứ nổi tiếng đánh Tây thời Pháp thuộc. Chuyện trận dốc Mù U là một trận kinh hoàng. Từ bận Vọt bị súng Tây hạ gục, người dân nơi đây tận mục sở thị sự lợi hại của đạn đồng, nên đánh Tây phải lắm mưu nhiều kế, không nghênh ngang kiểu anh hùng mã thượng được nữa. Tây mỗi bận đi càn chừng tiểu đội, bảy đến chín tên lính, súng lăm lăm chực chờ nhả đạn. Đôi khi không tìm ra Việt cộng, mấy thằng Tây lại ngứa ngáy xổ cả tràng đạn lên trời thị uy. Hai Hườn bí mật tổ chức trai làng phục kích Tây càn. Ông cho trai làng gom trái mù u đổ đầy kín con dốc, rồi giáo mác phục kích trong các bụi rậm. Tây đang nghỉ trên dốc chợt phát hiện có người thấp thoáng dưới chân dốc, thế là tiếng la ó, tiếng đạn bắn, tiếng xung phong, bọn Tây ngu ngốc rượt đuổi trên con dốc đầy cạm bẫy bằng trái mù u. Mù u bị dẫm lên, lăn tròn, giặc ngã huỵch sóng soài, hoảng hốt xả hết đạn dự trữ. Lúc ấy trai làng mới xông ra bằng võ nghệ kinh người trừng trị bọn Tây đích đáng. Sau bận ấy Việt An nổi tiếng là đất có Việt cộng chiến, còn Hai Hườn thì lên núi thoát ly theo cách mạng.
Tiếc là câu chuyện lịch sử dốc Mù U lại không được lấy một trang chính sử nào ở địa phương ghi chép, thành ra cứ trôi nổi như là dã sử trong câu chuyện trà dư tửu hậu. Phải chăng vì chiến công kia cũng chỉ là cái dũng khí mang đậm tính anh hùng Lương Sơn mà chưa phải là một chính kiến, cái then chốt để được cài vào những trang sử học thành ra lỏng lẻo?
4. Nhớ gì, thương gì?
          Đã xa rồi thuở xa xưa ngồi hóng chuyện, nay sau mỗi lúc nhàn rỗi, tôi thường ghé lại nhà mấy đứa bạn cùng quê, khề khà chén trà cùng ta kể nhau nghe chuyện đời xưa, nhắc đến sự này tích nọ cho thỏa cái lòng nhớ nhung cố xứ. Tự hào và tiếc nuối cứ đan xen. Ngày xưa sao mà thân ái, mà vô tư, mà vô tâm, mà hồn nhiên đến thế. Minh này, tôi còn nợ ông hai điếu ngựa đấy nhé. Bận ấy ghé nhà chơi, ông quý bạn mà xin đứa em gái năm trăm  đồng mua đúng hai điếu ngựa, mỗi đứa phì phà một điếu cho đúng điệu trí thức tương kính như tân. Ông bạn Tú nghênh ngang tự hào Bình Lâm nhất Tú ngó vậy mà đúng quá đi chứ nhỉ? Học đỗ đầu trường làm đứng đầu viện như ông ấy thật chẳng có mấy ai. Thôi tôi tặng ông mấy chữ Cao nhân hữu Minh cho huề cả làng được chớ? Ông tướng Hai cũng học giỏi có số, người đầu tiên hàng Huyện đỗ vào y khoa Huế chứ chẳng chơi. Mà cái tay cờ của lão cũng khiếp thật, một công không thủ, tôi một bận đấu cờ cứ khiếp thế công bạc mạng của lão mà chánh vánh. Cái lão Điểm thông minh mà gàn dở, hết đụng ông này lại chọc bà kia, hèn gì đường hoạn lộ chẳng mấy hanh thông, may mà còn làm ăn chân chính nhờ tấm bằng kỹ sư và tay nghề cũng hàng cao thủ hiếm có. Ờ, thằng bạn này có thiên hướng triết học, chắc xưa chọn nhầm nghề. Hễ cứ ngồi dăm ba phút là lão xổ ra một mớ triết lý loại…tự chế. Oái ăm là lão cứ truyền giảng xong lại quên phéng ngay lão đã triết lý điều gì. Bữa sau lại chế tác, mà bữa trước bữa sau cứ chống chọi nhau cật lực, hê hê! Rồi ông thầy thuốc này thật kỳ dị, mục hạ vô nhân. Rồi lão nhà buôn kia xứng danh độc thủ. Rồi lắm thằng có tôi có lão, nghề đời hiền quá hóa ngu…
          Bạc phơ mái đầu, đường đời mịt mù đi đứng, nay cao ngạo câu thơ, mai mỏi mệt thế sự, đôi góc nhà quen thành nơi nghỉ dưỡng mà cùng ôn cố tri tân. Đồi Lạc Sơn mùa xưa sim chín mọng, chừ chỉ mênh mông rừng keo lá tràm, lũ trẻ chăn trâu còn đâu cái thú nghêu ngao mùa sim chín. Núi Gai vẫn sừng sững mà chẳng còn chút uy nghiêm, cây đa cổ thụ bị hô biến tự bao giờ, cả một mảng đồi nham nhở đường xe tải dọc ngang cứ như cái đầu húi cua phải tay ông thợ vụng. Hè xưa thuở trẻ con cao hứng rủ nhau lặn ngụp một dải sông Trầu, thỏa thuê đầy mình cứt trâu bùn đất, chừ con sông cạn nước nằm trơ lòng đá như thách thức cùng tuế nguyệt. Nền công nghiệp hay bán công nghệ đã khiêng cả một màu quê đổ vào lòng phố, đổ ra thị thành, khiêng về nào xi măng cốt thép, cứ một mảng nhà tầng mọc lên là một mảng xưa đi vào hoài niệm. Mới đó mới đây mà một vùng tuổi thơ đã là cánh hạc vàng nhất khứ bất phục phản, chao ôi!
          Tôi rủ Minh: Minh à, mai mốt nghỉ hưu ta rủ nhau về lại quê xưa, mượn tạm góc rừng tràm nhà ai đó, mắc hai chiếc võng, mình nằm đua đưa giấc trưa phe phẩy chiếc quạt mo cu Bờm, được chớ? Minh cười không ra vui chẳng ra buồn: Ông giáo lại lẩn thẩn rồi, chiếc quạt cu Bờm cố chấp đã nhốt nhà quê vào đói nghèo mấy trăm năm rồi đó, ông giáo chẳng tỉnh trí sao? Thôi thì cái đã qua thì cứ cho qua, bận bịu làm gì cho thêm tiếc nuối. Quê xưa chừ có điện có đường, có xe có ngựa, cũng đành như trai nhà quê rước cô vợ hoa hậu về làng, vẻ vang mày mặt. Chỉ cái tội phải khốn khổ chịu đựng cái tính sang chảnh thị thành một chút. Tôi âm u ậm ừ: Ờ ờ, vậy sao? vậy sao?
          Chuyện xưa có cu Bờm phe phẩy chiếc quạt mo thanh thản nhìn đời, khước từ ba bò chín trâu, chẳng màng ao sâu cá mè, cứ thế mà ung dung đi qua thế sự. Là ngạo thế chăng? Là triết lý chăng? Là trắc thân ký xuất hữu hình ngoại của cao nhân? Là chấp nhất kỷ chi kiến của một đời mê muội?
          Ừ, cuộc sống là một dãy những biến thiên, vũ trụ giãn nở từng ngày trách sao cuộc đời không tăng tốc cho tròn vành cái khát vọng người khổng lồ nuốt chửng những vì sao. Mà vẫn thon thót giật mình khi ngoài kia tiếng ve ran mà lũ trẻ thơ cứ ngập đầu vào game điện tử. Mong sao cuộc sống đắp đổi mà không đánh đổi…
          Mà mong sao lũ bạn xưa khi hú nhau về thăm cố xứ, với tay sờ lại hồn mình, kịp mừng với mùi rơm gốc rạ vẫn thơm thảo nơi hồn chân quê!
                                                                     Đầu hạ 2016

                                                                   Nguyễn Tấn Ái