Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2016

467/ LẶNG LẼ MỘT DÒNG SÔNG


               Cảm ơn em Huỳnh Thị Hồng Vy. Chị lưu lại để làm kỷ niệm.

                Bài viết về chị Nguyễn Thị Bích Trâm – Giáo viên trường THCS Lê Quý Đôn, Phú Ninh

  Tôi gặp chị lần đầu tiên cách đây chắc cũng gần 7 hay 8 năm gì đó, có lẽ. Lần ấy, tôi được vinh dự đi tập huấn chuyên môn do Sở Giáo dục tổ chức tại Trường THCS Kim Đồng, huyện Duy Xuyên. Ấn tượng đầu tiên về chị không phải là sự xinh đẹp hay nổi bật mà là một sự dịu dàng. Dịu dàng từ trong ánh mắt, nụ cười, trong cách chị nói trước mọi người khi phát biểu trước đám đông. Một nét không thể quên nữa, ấy chính là mái tóc. Mái tóc dài, đen và óng mượt được chị buộc gọn thả thành dòng chảy hết cả lưng ong. Cũng chính nhờ mái tóc ấy đã khiến tôi nhận ra chị sau bốn năm gặp lại. Cũng rất tình cờ khi chuyển công tác, tôi lại về dạy cùng trường với chị. Từ đó đến nay cũng đã bốn năm. Bốn năm trôi qua, tôi giờ đã trở thành đồng nghiệp, người em thân thiết của chị. Có thể nói, với chị tôi thật lòng ngưỡng mộ một con người toàn vẹn, giỏi giang, đảm đang, nhiệt thành và hết lòng vì gia đình, vì công việc. Bên chị, học hỏi chị, quan sát chị nhiều lúc tôi cứ liên tưởng đến một dòng sông lặng lẽ. Bởi chị không cuồng nhiệt, không sôi nổi, không ồn ào mà cứ lặng lẽ…lặng lẽ như một dòng sông. Dòng sông lặng lẽ ngày đêm dâng mình cho cây lúa tốt tươi, ruộng đồng xanh mướt. Còn dòng sông – chị- ngày đêm miệt mài dành tất cả tâm tư, tình cảm, lo lắng cho học trò, cho công việc và cho những người thân yêu trong gia đình.




Chị là một trong những giáo viên dạy Văn được nhiều người  biết đến của ngành giáo dục huyện Phú Ninh. Bao lứa học trò của chị giờ đã  trưởng thành, đã ra trường, làm việc này việc kia vẫn luôn nhắc về chị với một lòng ngưỡng mộ chân thành.  Chị giỏi về chuyên môn, điều này ai cũng có thể nhận thấy. Không giỏi sao được khi chị đã có 10 năm đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở. Đặc biệt, năm 2012, chị được công nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp Tỉnh, Bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh, và được Giám đốc sở giáo dục khen về thành tích xuất sắc trong phong trào “Mỗi thầy cô giáo là tấm gương tự học và sáng tạo” giai đoạn 2007 - 2012. Năm học 2014 - 2015, chị đạt giải nhất trong cuộc thi giáo viên dạy giỏi cấp Tỉnh. Vậy mà, chị bảo: “Em ơi, nhận được những bằng khen, danh hiệu cũng vui thật đó. Nhưng chị sẽ vui nhất là nếu có những kết quả cao của học trò và được học trò luôn yêu thích giờ dạy đó em. ”. Chị thường bắt đầu lời tâm tình với tôi : “ Em ơi”, “Em nè” như vậy. Và tôi muốn nói với chị rằng học  trò thì  em nào cũng kính mến chị- một cô giáo dạy Văn truyền lửa đam mê.   mà lại rất thân thiện, vui tính nữa chứ!
Có làm việc cùng, tôi  mới thấy được sự tận tâm, tận tụy, miệt mài vì công việc của chị. Ai cũng bảo chị chăm. Vâng! Chị chăm lắm. Đã nhận làm việc gì là chị làm hết sức. Bao nhiêu đêm chị trằn trọc không ngủ. Bao nhiêu đêm chị mài mò trên chiếc máy tính. Có khi đến nửa đêm về sáng mà chị vẫn chưa ngủ.  Dấu khó khăn đến mấy chị vẫn cố, tìm, làm cho bằng được. Bởi thế,việc gì mà đến tay chị thì nhất định sẽ có kết quả tốt. Bao nhiêu việc, ấy vậy mà chị cứ vui vẻ nhận lấy, vui vẻ làm việc. Không nề hà, không toan tính…Tôi thật sự thấy khâm phục một con người năng nổ và nhiệt thành như thế.
       Chị giỏi giang trong công việc, ấy là một nhẽ. Chị yêu công việc bao nhiêu thì tình yêu dành cho gia đình cũng nhiều bấy nhiêu. Với tôi, chị là người phụ nữ  đảm đang nhất mà tôi từng thấy. Tôi đã từng khóc khi đọc những vần thơ chị viết về đứa con trai tội nghiêp: Mẹ chăm bẳm con thăm thẳm đợi chờ… /  Trong  nỗi đau có  niềm  vui  nho nhỏ.,/ Con của  mẹ đã biết cười, biết khóc, /  Biết ăn no, biết nũng nịu, đùa chơi...Nhà có hai con, một gái, một trai. Cô con gái lớn học giỏi đã vào đại học. Nhưng bất hạnh sao khi đứa con trai duy nhất của chị lại mắc bệnh từ lúc sơ sinh. Em hay đau ốm quặt quẹo, em hay mè nheo khóc lóc…Đã 12 tuổi rồi mà chẳng khác nào đứa trẻ lên ba. Chị dành tất cả tình thương yêu cho con. Chăm con, cho con ăn, ru con ngủ, đưa đón con đi nhà trẻ …Với chị, đưa con trai dù tuổi không còn nhỏ mãi là đứa con bé bỏng. Và chị muốn bù đắp những thiệt thòi cho con. Tấm lòng người mẹ ấy mênh mông vô bờ. 
 Ngày Tết, chị làm bao nhiêu món. Tôi bảo:
- Sao chị không mua cho khỏe?
- Chị tự làm để con chị ăn cho lành, mua ngoài chợ bẩn mà độc lắm em à!
          Chị cười. Tôi cũng cười mà thấy lòng hổ thẹn vì chẳng thể làm được như chị.
          Bao nhiêu việc. Bận rộn là thế. Vất vả là thế. Nhưng vẫn không thể làm mất đi tính vui vẻ, lạc quan và yêu đời nơi chị. Chị cắm hoa, chị làm thơ, chị viết văn, thỉnh thoảng viết báo…Việc gì cũng làm được. Hoa chị cắm thật đẹp mà ý nghĩa cũng thật nhiều. Tôi cứ như đứa trẻ, tíu tít chạy theo chị rồi trầm trồ. Bởi tôi chẳng biết hoa cỏ gì cả. Đôi lúc tôi nghĩ: “Chị từng  được công đoàn Việt Nam công nhận danh hiệu Phụ nữ hai giỏi thật đúng quả  
          Năm nay, chị đã gần cái tuổi 50. Cái tuổi mà chị bảo là đã “chiều thu” ấy. Nhưng bên chị, tôi vẫn cảm  nhận được ngọn lửa yêu đời, yêu nghề, lạc quan cư lan tỏa. Ngon lửa ấy đã nồng ấm trong những vần thơ chị viết trong bài thơ Trang đời.
                                     Dệt trang giáo án ước mơ
                        Mỗi ngày bục giảng sững sờ dáng xưa?                           
                                   Hoàng hôn còn chút nắng thưa   
                        Trang đời vẫn trẻ như chưa có chiều!                                                     
             Chắc chắn, những trang thơ mang đầy tâm huyết ấy cũng như những gì  chị cống hiến cho ngành giáo dục huyện nhà sẽ còn mãi. Con người chị, tính cách chị sẽ khiến bao đồng nghiệp nhớ mãi. Và tôi – người em, người đồng nghiệp nhỏ của chị cũng vẫn sẽ không bao giờ quên  chị- một người bạn lớn. Dòng sông ngoài kia vẫn lặng lẽ trôi, âm thầm đem nước và phù sa tưới tắm cho ruộng đồng cây trái. Còn chị - một dòng sông lặng lẽ âm thầm, ngày đêm dâng hết mình cho đời, cho người, cho những mầm non học trò… Chị vẫn đó, âm thầm đợi ngày cây lá mà chị chăm đâm chồi, nảy lộc, ra hoa, kết trái,

                                                                                       Huỳnh Thị Hồng Vy

466/ Hình ảnh dã ngoại tai Núi Thần tài 20-10-2016



Nghiêng bóng chiều
.                    đất trời mênh mông quá 
em hay là
.                      cây cỏ.... bên đồi thu.










Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016

465/ VẺ ĐẸP MỘT “BÀ TRƯNG”


                                                                              Một ngày dệt bóng dáng hồng
                                                                       Trăm năm trang sử ươm mầm nắng xuân.

Chị em tôi tỏa nắng vàng lịch sử
Nắng cho đời nên nắng cũng cho thơ.
Cảm ơn lời thơ Huy Cận đã nói hộ lòng chúng tôi về vẻ đẹp của chính “chị em mình” trong xã hội hiện đại. Tôi đã tìm thấy vẻ đẹp ấy tỏa hương trên chính vùng quê Phú Ninh, nơi vườn ươm của sự nghiệp trồng người mang tên THCS Lê Qúy Đôn. Và cô Hiệu trưởng của trường – Nguyễn Thị Thúy Vi – chính là nhân vật trung tâm gợi biết bao cảm hứng dạt dào để tôi nên viết tác phẩm nhỏ về “Gương tốt nhà trường, gương sáng nhà giáo”! 

Cứ nghĩ đến câu nói đùa: “Ở Phú Ninh có trường Hai Bà Trưng”, tôi thầm cười. Trường tôi mang tên THCS Lê Quý Đôn nhưng chỉ vì có hai cô làm cán bộ quản lý đấy mà! Lẽ nào lại có “Hai Bà Trưng” của trận chiến chinh phục tri thức trong sự nghiệp trồng người trên vùng đất Phú Ninh quê tôi?. Phải chăng một trong “hai bà” chính  là cô Nguyễn Thị Thúy Vi - Hiệu trưởng của trường? 


             
         Tôi có duyên biết về cô cách đây mười mấy năm khi cùng cô công tác ở trường cũ – THCS Nguyễn Văn Trỗi. Tôi còn nhớ rất rõ, từ Trà My, cô trở về quê chồng - Phú Ninh - sau bốn năm lặn lội lên tận vùng núi cao đem cái chữ cho đàn em nhỏ. Là người con gái của vùng đất Tam Xuân, về làm dâu, nơi đây đã trở thành quê hương thứ hai thân thiết, gần gũi. Để rồi cô tận tình với công việc dạy ở ngôi trường mới với sự an tâm được về gần gia đình chăm sóc hai con nhỏ. Kiến thức môn vật Lý vốn khô khan nhưng những tiết dạy của cô vẫn không thiếu bầu không khí nhân văn. Nhiều học sinh kính yêu cô còn bởi năng lực chuyên môn vững vàng, phương pháp truyền đạt dễ đi vào tâm hồn, trí tuệ trẻ thơ. 
          Nhiều lúc tôi tự hỏi: “Có cô Hiệu trưởng nào lại trông trẻ xinh như cô Thúy Vi không nhỉ?” Tôi rất thích ngắm nhìn gương mặt tròn trịa, làn da trắng trẻo, đôi mắt sáng dưới hàng lông mày đen, cong mềm mại luôn tỏa ánh nhìn ấm áp. Giọng nói cô luôn nhỏ nhẹ, lời lẽ mộc mạc tạo nên cảm giác gần gũi, thân thiện đến lạ kì! Nhìn cái dáng vẻ ấy, có lẽ không ai nghĩ rằng cô là một người mẹ đã có hai con đang tuổi ăn học cấp 2,3. Tôi biết, cô cũng rất vất vả khi phải chăm lo cho bữa ăn hằng ngày và việc học hành của con cái. Nhiều lần tổ tôi mời cô dự tiệc vui nhỏ cuối học kì, cô khéo léo từ chối. Và ai cũng biết cô phải vội về lo bữa trưa cho gia đình và đón đưa con đi học. Nhìn cái dáng vội vã của cô gữa trưa nắng tôi thầm nghĩ: “Dù đã là hiệu trưởng, cô có khác gì mình đâu -  vẫn như con cò vất vả sớm hôm trong tổ ấm gia đình thân thương là thế!”. Vậy  đó, cô đã vượt qua những khó khăn trong trách nhiệm lặng thầm của những thiên chức ở một người phụ nữ để làm người chỉ huy giỏi nơi học đường.
Và chính tôi cũng từng ngỡ ngàng khi biết cô giáo trẻ mới chỉ có chưa đến 10 năm trong nghề lại được bổ nhiệm làm Phó Hiệu trưởng. Và rồi qua lời trò chuyện với một số thầy cô ở nơi  trường mới - THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm- tỏ ý thán phục, yêu mến tôi mới dần hiểu ra. Cô Phó Hiệu trưởng trẻ dịu dàng, cần mẫn, chu đáo đã làm tốt bổn phận “nàng dâu trăm họ”. Bốn năm so với các bậc tiền bối có là bao nhưng cô đã chứng tỏ uy tín về năng lực, phẩm chất để rồi cô tiếp tục chặng đường khởi sự gian nan ở các lớp Chất lượng cao - tại trường THCS Nguyễn Hiền. Giờ đây, cô đã là Hiệu trưởng và cũng là Bí thư chi bộ nhà trường ở ngôi trường mới mang tên THCS Lê Quý Đôn.
Tôi vốn thích ngắm nhìn cô trong những bộ áo dài tha thước và càng thích hơn bởi vẻ bình dị, khiêm tốn trong lời nói khi cô đứng trước hội đồng sư phạm: “Được làm việc với đội ngũ thầy cô là những con chim đầu đàn trong ngành  nơi trường điểm của huyện là niềm vinh dự đối với tôi. Tôi muốn được lắng nghe những ý kiến hay và trân trọng tất cả sự  cống hiến của các thầy cô”. Và cô đã chứng tỏ điều đó bằng phong cách “quần chúng, dân chủ, nêu gương” học tập từ gương Bác vốn đã thấm nhuần trong lời ăn, tiếng nói, cách ứng xử. Mọi việc lớn nhỏ đều được cô đưa ra công khai lấy ý kiến của tập thể. Nhờ vậy tập thể nhà trường luôn có sự đoàn kết, nhất trí cao. Và có lẽ trái tim ấm áp của một người nữ cán bộ quản lý trẻ đã làm dâu, làm mẹ, làm vợ luôn thấu hiểu “mỗi nhà mỗi cảnh” nên đã có sự phối kết hợp với Phó Hiệu trưởng cũng là “Bà Trưng thứ hai” khi phân công công tác giảng dạy chính khóa, nâng cao, bồi dưỡng hợp tình, hợp lý. Là một giáo viên dạy Văn, chính tôi cũng thật sự cảm động khi cô dự giờ góp ý cặn kẽ chân tình và có hay nữa chứ! Tôi biết cô rất quan tâm đến công tác chuyên môn, nâng cao chất lượng giáo dục của trường ấy mà! Trường tôi luôn rộn ràng không khí giảng dạy tích cực là bởi linh hồn của cô Hiệu trưởng có tư tưởng đổi mới đấy thôi.
          Điều mà ai cũng quý mến ở cô là sự nhiệt tình, tận tụy với công việc. Có hôm, ở lại trường vào buổi trưa mà cô vẫn không nghỉ ngơi được vì còn phải lo nhiều công việc, hồ sơ, sổ sách. Thậm chí cô còn phải mang việc trường về làm vào ban đêm cho kịp hoàn thành. Việc sắp xếp lịch để mời và tiếp đón phụ huynh cũng được cô quan tâm và thực hiện bằng cả tấm lòng, sự hòa đồng, gần gũi. Tuy bận rất nhiều việc nhưng cô không quên dành thời gian dự giờ sinh hoạt chào cờ đầu tuần cũng như quan tâm sâu sát đến các hoạt động ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp. Những lời tâm tình nhỏ nhẹ nhắc nhở về an toàn giao thông, giữ vệ sinh môi trường, tiết kiệm điện nước…của cô hiệu trưởng luôn chu đáo đã là nguồn động viên lớn để các em học sinh thi đua học tập, rèn luyện và làm theo gương Bác. 
Và riêng tôi thì ấn tượng nhất về cô bởi phong thái, cách ứng xử của người làm quản lý. Tôi còn nhớ, có một lần họp hội đồng sư phạm nhà trường về vấn đề thi đua, có nhiều ý kiến bàn luận, tranh cải đến mức căng thẳng. Tôi cảm thấy rất lo ngại cho cô khi phải giải quyết vấn đề vô cùng nan giải. Nhưng rồi, tất cả trở nên nhẹ nhỏm, sáng tỏ bởi tình và lý hòa quyện khi cô luôn bình tĩnh, ôn tồn, nhã nhặn, mềm dẻo nhưng cũng rất cương quyết. Quả là một phong cách Hiệu trưởng trẻ mà tôi hiếm thấy!
Cơ ngơi của ngôi trường mới còn ở chặng đầu xây dựng. Dường như cô đã hình dung hết được những khó khăn về mọi mặt và kịp thời tranh thủ được sự quan tâm, ưu ái của các cấp lãnh đạo về vật chất lẫn tinh thần. Nhờ vậy, sân trường còn dang dở những mảng sân bê tông đã mang màu xanh của cây lá. Niềm vui hân hoan của em thơ khi ngày ngày đến lớp, giải nhất toàn đoàn trong các kỳ thi cấp huyện và cấp tỉnh, các giải quốc gia đã ghi dấu hình ảnh ngôi trường mang màu sắc của sự trẻ trung, năng động, nhiệt huyết nhờ người chỉ huy dám nghĩ, dám làm.
Có lẽ vì vậy mà trong lòng tôi, cô là người tôi nghĩ đến đầu tiên khi viết về gương sáng nhà trường. Khi tôi nói ý định và tỏ ý xin phép thì nhiều lần đều bị cô nhất quyết từ chối. Cô mỉm cười, một nụ cười thật tươi, thật hiền và giọng tâm tình: “Em cảm ơn chị rất nhiều đó. Thiệt tình em tự thấy mình chưa đóng góp được gì. Em muốn chị viết về các thầy cô trường mình đi…”. Thế rồi, cô nêu ra tên của nhiều thầy cô … Cô nêu nhiều đến nổi tôi không nhớ hết. “Các thầy cô trường mình đều là những tấm gương đáng được ngợi ca đó chị à. Điều em muốn ai cũng biết đến là học sinh trường mình nhiều em rất xuất sắc và các thầy cô trường mình ai cũng có tài, có tâm”. Cô luôn nghĩ vậy mà. Biết làm sao? Phải vất vả lắm tôi mới tìm hiểu thêm một số thông tin về cô...
          Chính lời nói tâm sự đó đã làm tôi thêm thầm phục cô và nhớ về mấy câu thơ cô viết được đăng trong tập san Lời ru của trường THCS Nguyễn Văn Trỗi nhân kỉ niệm ngày 20 tháng 11 năm 2003 - cách đây mười ba năm với những tình cảm chân thành, thắm thiết mà cô đã dành cho nghề trong bài thơ Em là cô giáo.            
                   Dẫu dòng sông còn lắm thác ghềnh
                   Em vẫn là em vững tay chèo cập bến
                   Ôi mái trường yêu muôn ngàn thương mến
                   Cô giáo là em - thầm lặng những chuyến đò.
Đã bao nhiêu chuyến đò và giờ đây sẽ là bao nhiêu chuyến thuyền vượt qua giông tố? Những câu thơ tâm tình xúc động ấy đã thầm lặng tự họa nên chân dung lặng lẽ của người nữ kĩ sư tâm hồn của ngày hôm qua, hôm nay và ngày  mai nữa.  
           Khó có thể dùng ngôn từ để viết hết về cô Hiệu trưởng. Hình ảnh cô có khác nào vị thủ lĩnh trẻ tài ba giàu tình yêu với nhiệm vụ mà vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất lặng lẽ tỏa nắng ấm áp trong lòng mọi người. Hơn mười lăm năm tận tụy với nghề của cô với 7 năm là Chiến sĩ thi đua cơ sở, 2 bằng khen cấp Tỉnh vào năm 2012, 2015 và 5 năm liền là Đảng viên tư cách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Không thể nói hết những gì cô đã tận tâm cống hiến. Và phải chăng cái biệt danh “Bà Trưng” đùa mà hóa thật? Bà Trưng ngày xưa làm nên trang sử vẻ vang. Ngày nay,“Bà Trưng” con cháu như cô đang tỏa nắng cho đời để dệt nên những trang sử vàng trong vườn ươm trồng người trên vùng quê nông thôn mới Phú Ninh.      

             Nguyễn Thị Bích Trâm                                                                             

Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2016

464/ NHỮNG CÁNH THƯ KHÔNG GỬI

     

 Bài đạt giải A -đơt  thi tham gia sáng tác với chủ đề “Biển, đảo trong trái tim em” -Trại sáng tác Văn học thiếu nhi các tỉnh thành phía nam năm 2016. 

          Nó xếp lá thư vừa viết xong còn nguyên mùi mực, vuốt góc cẩn thận rồi đặt ngay ngực trái. Xong rồi mới đặt vào bao thư. Nó lại nắn nót viết từng chữ hoa thật đẹp vào ô người nhận. Tỉ mẫn. Chăm chút. Như muốn dồn tất cả tình yêu thương, sự nhớ mong, lòng tự hào vào từng nét chữ ấy. Dán chiếc phong bì cẩn thận, nó đi về phía đầu giường, lôi ra một chiếc hộp nhỏ. Mở khóa. Nhẹ nhàng đặt bao thư vào đó cùng với 99 lá thư khác đã nằm ngăn nắp trong đó. Mỉm cười. Đây là lá thư thứ 100 nó viết cho ba.
          Nó – một con bé vừa tròn 11 tuổi. Nó sống với mẹ nơi thành phố phồn hoa đô hội. Tiếng còi xe inh ỏi. Tiếng ồn ào phố phường…Bao nhiêu âm thanh cứ trộn lẫn vào nhau mỗi ngày nhưng không làm sao át đi tiếng sóng biển vẫn vang lên trong lòng nó. Cứ mỗi dịp nghỉ lễ hay nghỉ hè, bao giờ mẹ cũng dẫn nó về quê nội. Quê nội nó là một ngôi làng nghèo ven biển miền trung. Ở đấy, những ngày hè nắng gió đến rát da. Còn những mùa mưa thì sóng vỗ ầm ầm với những cơn bão biển dữ dội. Ấy vậy mà nó lại yêu miền quê ấy đến lạ kì. Nó yêu những con sóng lăn tăn vỗ vào bờ cát mỗi sớm mai. Yêu những con cá, con tôm mắt sáng, trong xanh đến kì lạ. Yêu những buổi sớm mai ngồi nghe biển hát. Nó thích được ngụp lặn trong dòng nước mát lành ấy mà tưởng tượng như biển đang ôm nó vào lòng. Nó nhớ da diết những đứa trẻ đen nhẻm vì nắng và gió biển, nhưng nụ cười lại rạng ngời tỏa nắng…Đặc biệt, nó nhớ nơi ấy bởi ở đấy có người bà lưng còng, mắt mờ, ngày ngày chống gậy nhìn ra phía biển. Rồi lại chống gậy, men theo đồi cát, đến ngồi im lìm bên những ngôi mộ trên đồi. Bà thì thầm trò chuyện rất lâu. Rồi lại men theo đồi cát, đi về nhà. Nó vẫn thường hay theo bà mỗi khi về đó. Những lúc ấy, bà lại kể nó nghe bao nhiêu chuyện, những câu chuyện buồn, đã xa, xa lắm…Chuyện về ông, về ba nó, và về cả chính nó những ngày ấu thơ…
          Những buổi chiều như thế. Gió từ biển thổi vào phần phật. Mấy tàu dừa khô trước nhà xào xạc, xào xạc. Gió thổi tung mái tóc cắt ngang vai của nó. Nó nhìn mấy cọng tóc bạc phất phơ của nội mà thấy thương nội quá. Nội nhìn về phía biển lúc này đang nổi những con sóng bạc đầu bằng ánh mắt xa xăm. Tay nội sờ vào mấy tấm ảnh đã cũ. Rồi nội kể, giọng trầm hẳn đi: “Ông cháu ấy à! Ông đã từng là một người lính biển kiên cường đấy…” Bao giờ nội cũng bắt đầu như thế! Qua lời kể ấy, nó hiểu được nỗi nhớ của bà dành cho ông. Vâng! Ông là lính biển, một người lính thực thụ. Cả cuộc đời bám biển, chiến đấu với bao kẻ thù, ông chưa bao giờ chùn bước. Ông yêu biển, đồng nghĩa với việc ông luôn phải xa gia đình. Tuổi thanh xuân của bà là những năm tháng cô quạnh. Bà vò võ nuôi con một mình. Ông ra đi trong một trận chiến ác liệt với kẻ thù. Bà đau đớn đến tận cùng nhưng phải gắng gượng vì con. Rồi ba lớn lên. Tình yêu biển đã ngấm sâu vào máu thịt. Mặc cho người mẹ khóc lóc, van nài, ba vẫn quyết tâm nối tiếp nghiệp ông. Ba cũng trở thành một người lính biển.
          Một ngày của tám năm về trước – ngày nó lên ba. Một đứa bé ba tuổi, đầu quấn khăn tang, mặc bộ đồ tang trắng, tay cầm gậy đứng bên chiếc quan tài khiến bao nhiêu ánh nhìn ái ngại và thương cảm. Nó khóc… vì hôm nay nhà có nhiều người lạ quá! Mà ai cũng khóc! Tiếng kèn, tiếng trống ỉ eo đến não ruột. Mẹ nó rũ rượi, ôm nó khóc không thành tiếng. Nó đâu biết rằng đó là ngày buồn tủi nhất. Ngày nó mãi mãi không còn ba nữa. Nó khóc đó, rồi ngủ đó, có khi cười với người quen khi được cho cái bánh, cái kẹo hay một món đồ chơi đẹp mắt…Ba tuổi, nó chưa hiểu mất mát là gì!
Sau này lớn lên, qua những lời kể của nội, của mẹ, qua những hình ảnh và kỉ vật ba để lại, nó đã khắc sâu trong tim hình ảnh về ba. Trong tâm khảm, nó hình dung ba là người cao lớn, vạm vỡ, ánh mắt đen đầy cương nghị, nụ cười thật hiền và giọng nói thật trầm ấm, vang xa.
Tuổi thơ đi qua. Nó dần lớn lên. Nhìn chúng bạn có ba đón mỗi chiều tan trường, được ba và mẹ chở đi công viên cuối tuần mà nó thấy chạnh lòng. Nó nhớ ba da diết nhưng không buồn. Nếu có ai hỏi: “Ba đâu?” Nó sẽ trả lời đầy tự hào: “Ba tớ ấy à! Ba tớ đã từng là lính biển đấy”. Ngày ấy, ba gặp tai nạn trong một lần làm nhiệm vụ, rồi mãi mãi nằm lại nơi biển cả. Nội và mẹ tưởng không thể sống nổi. Nhưng rồi nhìn đứa con gái ba tuổi mắt đen láy, trong veo, cả hai đã cùng nhau đứng dậy, cùng nắm chặt tay nó. Lớn lên một chút, nó đã hiểu chuyện, đã biết những mất mát đau thương. Nó trở nên mạnh mẽ. Và tự nhiên nó yêu biển đến kì lạ. Những ngày ở quê, nó thường ngồi rất lâu bên bờ biển, nhìn ra xa. Nó di di bàn chân trên cát, để mặc những con sóng vuốt ve đôi bàn chân nhỏ. Thỉnh thoảng nó nằm sấp tai xuống cát để nghe những âm thanh u u trong ấy. Nó gọi đó là âm thanh của biển. Mẹ lại bảo: “Con lắng nghe đi, trong đó có tiếng thì thầm của ba”.
Nó bắt đầu viết những bức thư cho ba từ năm lớp 4. Nó đọc đâu đó trong sách nói rằng: “Nếu viết 1001 bức thư cho ai đó thì phép màu sẽ xuất hiện, người đó dù có đi xa cũng sẽ trở về”. Và nó tin và mong phép màu ấy sẽ đến. Trong những bức thư, nó thường kể với ba về những chuyện trên lớp, chuyện cái Bích khóc nhè, chuyện thằng Tuân giật bím tóc, nhiều nhất vẫn là khoe những điểm 9, điểm 10 nó đạt được. Có hôm, nó thấy mẹ nhìn ảnh ba rồi khóc. Nó lại viết cho ba…Nó biết mẹ nhớ ba, như nỗi nhớ trong lòng nó vậy. Nó về thăm nội, chạy ù ra biển, chụm tay lên miệng rồi hét to : “Ba ơi! Con đã về thăm ba đây!” Sóng cuốn những lời của nó ra xa, xa mãi… Trên không trung những con hải âu trắng bay là là nhịp cánh. Người ta vẫn bảo, khi người lính biển ngã xuống họ sẽ hóa nên những chú hải âu. Hải âu bay lên cao nhưng vẫn bám biển muôn đời. Có lẽ trong những cánh chim kia có một đôi cánh là của ba nó….
Đêm ấy, nó lại thức khuya, nhìn ra phía biển, nhìn về phía xa, nơi có những ngọn hải đăng đang chiếu sáng vằng vặc . Nó lại ngồi viết những dòng thư cho ba. Lá thư thứ 101… Những cánh thư không bao giờ gửi…
“Ba thương nhớ! Chiều nay con lại về với biển, về với ba. Biển vẫn xanh và nước muôn đời vẫn mặn ba nhỉ? Cát dưới chân con vẫn vàng giòn. Những con còng cát vẫn chạy dài trên bãi. Con đã chạy theo chúng đến mỏi nhừ cả chân ba ạ! Biển chiều nay thật êm. Con đã nằm thật lâu để mặc những con sóng vỗ vào mặt, vào mình. Con biết biển đang thay ba ôm con vào lòng. Lời thì thầm của biển phải chăng là lời thì thầm của ba. Con không buồn đâu ba ạ. Con biết ba vẫn ở ngoài kia, ba hóa thân thành ngàn con sóng vỗ….Ba là những cánh hải âu trên cao xanh bao la kia…Con đã lớn lên từng ngày bằng tình yêu thương của mẹ, bằng lòng mong mỏi của bà. Con được bồi đắp lòng yêu biển quê hương bằng những chiến công của ông và của ba. Con tự hào vì con có ba. Bên con vẫn còn có bao nhiêu trái tim đồng lòng hướng về biển cả. Dân quê mình vẫn bất khuất kiên trung. Ba ạ! Bài học hôm nào cô giáo dạy con vẫn nhớ. Biển quê hương mình vẫn vất vả gian nan…Con yêu ba, yêu biển quê mình. Con biết nơi trời cao xanh thẳm kia, ba đang mỉm cười nhìn con. Những chú hải quân vẫn ngày đêm bảo vệ ngư dân bám biển. Như những đàn hải âu kia vẫn là là nhịp cánh mỗi ngày trên biển phải không ba? Con sẽ còn viết nữa những dòng thơ về biển, về ba...Bây giờ con đã biết sẽ không có phép màu nào nữa nhưng con vẫn sẽ viết, con tin sẽ có một điều kì diệu xảy đến với mình. Khi nào biển còn là ba vẫn bên con. Những con sóng bạc đầu nghìn năm vẫn không thôi vỗ nhịp. Và nhịp đập trái tim ba đã hòa vào nhịp của sóng phải không ba?...”
Nó gấp lá thư lại, nhẹ nhàng đặt lên ngực trái, cẩn thận như mọi lần… Ngoài kia, trăng đã lên cao lắm. Trăng như chiếc mâm vàng khổng lồ soi sáng cả mặt biển mênh mông. Gió hát lời ru của biển. Gió cùng sóng mang những lời thì thầm từ trái tim bé bỏng của nó ra xa, xa mãi nơi biển khơi.

        (Nguyễn Lương Hoàng Diễm – học sinh lớp 7/1, trường THCS Lê Quý Đôn, Phú Ninh, Quảng Nam)

463/ HAI TÁC PHẨM DỰ THI CỦA LÊ NGUYỄN MAI LINH.

                                         

                                   Biển đảo mùa thu 


       Tác phẩm đạt giải B - Trại sáng tác Văn học thiếu nhi các tỉnh thành phía nam năm 2016 với chủ đề “Biển, đảo trong trái tim em”


                   
                                   
                                 Thấm thoắt mấy mùa thu đi qua
                           Nơi đây mẹ già ngóng chờ con nhỏ
                           Con biết không con hàng bàng trước ngõ
                           Đã bao lần thay áo đượm màu sân
                           Cái quả thơm ngon hạt cơm béo ngậy
                          Thương con ở vùng đảo xa xôi ấy
                           Mẹ biết con thèm, con nhớ biết bao
                           Hãy yên chí con trai bé nhỏ
                           Nơi đây mẹ vun trồng chăm sóc nó
                           Dẫu thời gian tóc mẹ đã bạc phơ
                           Mắt mẹ đượm buồn, giọt lệ thấm áo
                           Mong sao mẹ con ta đoàn tụ
                           Chỉ một ngày một ngày thôi con ơi!!

                          Mẹ biết:
                          Nơi xa xôi biển đảo của tổ quốc
                          Có hình hài máu mủ mẹ yêu thương
                          Ngày qua ngày lặng mình giữa sóng biển
                          Tóc hóa vàng, da ngăm rám nắng
                          Có sao đâu con trai của mẹ
                         Tổ quốc yên bình thắm một màu xanh
                          Nơi đảo xa vang tiếng gọi trong lành
                          Con thủy chung với một miền đất mẹ.
                    
                         Ở biển đảo có nghe thiên nhiên gọi
                         Gió thủ thỉ sóng thì thầm tai con
                         Đàn hải âu bay lượn giữa trăng tròn
                         Thấy chị Hằng khép mình cười e ngại.

                         Khi ngọn lửa thắp trên ngọn nến xanh ấy
                         Hãy nhìn về muôn dặm phía xa xa
                         Lẫn trong màu nước xanh ngọc ngà
                         Có nụ cười, ánh mắt mẹ già luôn dõi

                         Ở nơi ấy
                        Biển đảo là lòng mẹ
                        Bầu trời vòng tay cha
                        Khẩu súng là những món quà
                        Biết chăng…
                        Cánh diều no gió nhớ người lính biển

                        Ngày ra đi không một chút bàng hoàng
                        Nhịp đập trái tim đập cùng nhịp sóng
                        Mẹ tự hào con trai bé bỏng
                        Thông minh, dũng cảm, kiên trì
                        Hãy, luôn là lính ngã nhào sóng gió
                         Mẹ, hàng bàng mãi dõi theo con.
                                                     
                                                  Lê Nguyễn Mai Linh Lớp 8/1 THCS Lê Qúy Đôn-Phú Ninh

                                                 

                                          Giấc mơ biển cả.

            “Đây Trường Sa, kia Hoàng Sa ngàn bão tố phong ba ta vượt qua vượt qua….mắt e nhìn theo  con tàu đi xa mãi, giữa nơi biển khơi đang nở rộ ngàn bông hoa san hô..”. Gió hây hẩy. Biển ru bằng những đợt sóng rào rạt. Những đốm sao lung linh như muôn vàn hạt kim cương nạm trên bầu trời của mặt biển yên bình. Tiếng hát và giai điệu trữ tình quen thuộc ấy  lại cất lên trong đêm thanh tĩnh. Tôi lại thèm ăn một củ khoai lang đất cát, một bát mì Quảng do chính tay mẹ nấu, thèm được bắt còng cùng lũ bạn, thèm được gặp một người.  Nhớ.
                                           *              *
                                                   *
           Cái làng chài cằn cỗi đầy nắng gió - làng chài ven biển Tam Thanh..”   Ngày ấy… Tuổi thơ tôi ngụp lặn với biển cả. Mẹ tôi - da đen láng vì làm muối để có tiền lo cho từng bữa ăn của chúng tôi. Ba tôi thì đi biển cả tháng mới về. Cả nhà tôi sống nhờ biển. Ở miền quê chỉ có cát vàng, biển xanh bao phủ, chúng tôi chẳng bao giờ được biết đến công viên, đồ chơi điện tử như bọn trẻ thành phố. Nhưng đời nào tôi buồn về việc đó bởi tôi tự hào hơn ai hết về cái tuổi thơ mộc mạc, bình dị. Bạn của tôi là một đám trạc  tuổi tôi, da ngăm đen, tóc cháy nắng. Con Hà, thằng Tí, thằng Tam và cả  cô bạn  Hoa đáng yêu nữa. Chúng tôi là bạn thân của nhau từ thuở biết bò, chơi với nhau, gắn kết với nhau như hình với bóng.
           Sau những buổi đến trường, chúng tôi thi nhau bằng cua bắng còng rồi có thể hòa mình vào dòng nước mát, từng gợn sóng trắng xóa nô đùa đập vào bờ quấn vào chân chúng tôi như hòa vào cuộc chơi lí thú. Trong đám chúng tôi, thắng Tí là người bơi giỏi nhất, nó thường nằm thả mình trên mặt biển như tấm đệm xanh êm êm... nhìn bầu trời. Tôi thích lắm, tôi thèm được như nó, một chút hứng thú với biển của tôi bắt đầu từ đây. Từ đấy tôi quyết tâm học bơi, hễ thấy bóng ba là tôi lại nhảy lên, ôm chặt cổ, vòi ba phải dạy tôi bơi. Và rồi  tôi bơi rất giỏi.
           Vào một buổi sáng đẹp trời. Chúng tôi rủ nhau ra biển tắm. Những làn sóng vỗ nhẹ vào bờ.Chẳng hiểu lũ bạn, hễ ra biển là nhảy “tùm” xuống nước ngay, còn tôi cứ từ từ, từ từ. Nước vuốt ve bàn chân ấm áp, thoải mái đến kì lạ. Cát dưới chân tôi cứ xoắn xoắn, tôi cảm giác như mình đang chạy, đang tiến tới chân trời phía xa, nơi mà ba tôi và các bác đang ngày đêm đánh bắt. Gió hiu hiu. Tôi choàng mình ngã xuống mặt biển êm ả, biển thì thầm tai tôi nhưng chả rõ nói gì, tôi thầm nghĩ là “chào buối sáng, anh bạn”. Đắm mình trong lòng bạn biển không được bao lâu. Chợt.. “Cứu tui với..!! Mấy người ơi cứu tui với..có ai không cứu cháu..!!!...Hượn ơi…” Tiếng kêu cứu, ai kêu cứu thế kia. Hoa, giọng nói đó là của Hoa. Tôi đứng  phắt dậy, nhìn xung quanh hét lớn “ Hoa, bà ở đâu????” Không hiểu sao lúc này chân tay tôi run lẩy bẩy. Nếu..nếu như biển cướp đi người bạn “quan trọng” của tôi thì…thì. Lũ bạn tôi cũng cuống cuồng lên, con Hà chạy tán loạn tìm, thằng Tí bơi ra phía ngoài kia, còn thằng Tam chạy đi gọi người lớn. Còn tôi, có lẽ mặt tái nhợt. Rối bời. Tôi cố lấy bình tĩnh, chợt thoáng thấy một cánh tay giơ lên. Không nghĩ ngợi gì, tôi phóng mình, bơi thật nhanh, chưa bao giờ tôi thấy mình bơi nhanh đến vậy. Tôi ngỡ như biển đẩy tôi, tiếp sức cho tôi. Vài giây sau tôi tới được và dìu Hoa vào bờ. Cũng may bọn tôi được dạy sơ cứu kĩ vì ở với nước nên Hoa Sữa cũng ko bị sao. Khi tỉnh lại, Hoa  khóc rồi lại cười. Chả hiểu sao lồng ngực tôi cứ đập thình thịch, nụ cười ấy, đôi mắt ấy chạm tới tim tôi. Rất nhẹ.
         Đêm hôm đó tôi không thể chợp mắt, mọi cảm xúc cứ bồn chồn khó tả. Ánh mắt cảm ơn đen láy của cái Hoa làm tôi không thở được.  Thế là tôi trốn nhà lẻn ra bờ biển. Lòng tôi nhẹ hơn. Tôi mắc bệnh “nghiện” biển, lúc nào cũng vậy. Hít thở hơi ấm mặn mà, tâm sự với biển rộng mênh mông. Biển như lẳng lặng lắng nghe, chốc chốc lại thầm thì trò chuyện. Lần này, tôi có hơi giận nhưng thầm cảm ơn biển đã mang đến cho tôi “một sự cảm nắng” tuyệt vời!
           Từ lần xảy ra tai nạn, lũ bạn ít thân với biển hơn. Tôi biết biển buồn lắm, biển đâu cố ý làm Hoa bị như vầy, đúng không? Đám bạn tôi, có lẽ chúng đã quá quen với việc nhìn thấy vỏ sò, ốc, cá..v..vv... Chúng ăn uống cũng thấy biển, học tập, vui chơi cũng thấy biển và cho đến lúc ngả mình trong chiếc chăn  ấm áp cũng rì rào sóng vỗ bên tai. Có thể, đôi lúc chúng cảm thấy chán nhưng riêng tôi thì không. Bởi biển chứa  như cuốn sổ nhật kí lưu giữ tuổi thơ tôi và chỉ có biển mới biết tình cảm tôi dành cho một người bạn...
           Tình yêu tôi dành cho biển gắn với niềm mong chờ ba tôi đi biển xa về. Cứ mỗi lần ba ra khơi, ngày nào tôi cũng nhớ và rất nhớ ba.  Tôi thầm mong cho sóng emm biển lặn ba đi về được nhiều cá mực. Vui nhất là những lúc vừa  cắp sách về tới nhà, tôi thoáng thấy con thuyền đang tiến về làng tôi. Tôi chạy quanh khắp làng, reo hò, thông báo ầm ĩ. Lũ trẻ chúng tôi chạy hết ra đứng vẫy tay, gọi lớn: “ Ba..Ba…baaaaa…”. Ba của chúng tôi đã về. Tôi nhìn thấy ba mình.. ba đã về “Mẹ ơi! Ba về rồi”..tôi kêu to. Tôi gọi mà lòng vui không tả xiếc. Ba vừa xuống thuyền, tôi nhảy vồ tới ôm ba, ôm chặt đến nổi ba không thở được.  Nhưng rồi ba lại đi đánh bắt. Có lần tôi nằng nặc đòi đi theo và ba không đồng ý vì sợ tôi không chịu nỗi chuyến đi dài ngày. Thế là tôi giận, tôi khóc, tôi bỏ cả ăn, cứ ủ rủ, tôi ra biển. Biển hiền hòa như chia sẻ cùng tôi mơ ước khám phá... Bỗng, một bàn tay chạm vào vai tôi “đi thôi con”. Giọng ba tôi đấy ư? Ba vừa bảo tôi đi cùng đấy ư?” tôi nhảy cẩng lên “yeahhh” một tiếng thật vang. Biển vỗ một làn sóng mạnh tung tóe như vui mừng cùng tôi.
        Chuyến đi cùng ba bắt đầu trong ánh mắt thèm thuồng của lũ bạn. Tôi ở với biển từ nhỏ, nhưng đây là lần đầu tiên tôi được chồng chềnh trên biển. Con thuyền nhỏ trôi giữa đại dương mênh mông, bạn biển thật rộng và giờ tôi đang ở trong lòng bạn ấy. Tôi ngồi ở mui thuyền, nhìn quan cảnh. Ồ..những đàn hải âu tung cánh chao đảo khắp nơi, những chú cá nhảy tung,vẫy đuôi rồi lặng xuống biển. Chiếc thuyền rẽ nhánh nước biển, những làn nước trắng cuộn mình như đang nâng lấy con thuyền ba  tôi. Và  phía xa xa.. “ Đó là gì hả ba?”- tôi hỏi. “ Đó là nơi canh gác của các chú lính hải quân con à..”. Lính hải quân, tôi cứ nghĩ mãi ba chữ đó, tôi nhìn chằm chằm vào tòa tháp cao..mãi..không thôi.
           Màn đêm dần dần buông xuống, như gần trước mắt ông mặt trời dần xuống biển hệt ngọn nến sắp cháy hết.  Trời tối dần, tối dần, Chỉ còn những đốm sao lung linh đáy nước.  Ba gọi tôi vào ăn tối. Bữa ăn đầu tiên của tôi trên chiếc thuyền.   “Ầm” có gì đó va mạnh vào thuyền. Con thuyền rùng mình như sắp vỡ. Tôi hoảng sợ. Hình như con thuyền chạy nhanh hơn. Tôi nghe thấy tiếng la hét: "Bọn Tàu khựa" .  Tôi ngồi thu mình, qua khoảng hở của bong tàu tôi thấy lờ mờ  một chiếc tàu to như con chó sói khổng lồ đang hăng máu. Và rồi con thuyền  của ba tôi đã bị hỏng vì vết đâm lúc nãy. Tôi run chân, đứng bất động. Ba trấn an và mặc áo phao cho tôi, ba cố để chặn nước tràn vào thuyền. Tôi khẩn cầu, tôi chắp tay khẩn cầu bạn biển cho con thuyền của ba tôi được bình an. Nhưng không, con thuyền của tôi và ba đang chìm, từ từ. Ba phát tín hiệu cầu cứu, nhưng cái ý nghĩ non nớt, dại dột rằng mình sẽ chết cứ lẩn quẩn mãi trong đầu tôi. Trời đất quanh tôi tối sầm lại, thằng con trai dám đương mình cứu bạn giờ đang ôm chầm ba nó, khóc.. Tôi không khóc to, khóc ré.. tôi nấc lên, có lẽ v́ quá sợ đến nổi khóc không ra tiếng. “Thật là..Hượn dũng cảm của ba đâu rồi”- Ba tôi mỉm cười như không có gì xảy ra. Thế là tôi cố, rất cố gắng để bình tĩnh nhưng còn thuyền vẫn cứ chìm. Lúc tôi tuyệt vọng nhất, là lúc mà tôi nghĩ ba con tôi sẽ ra ði không lời từ biệt với mẹ và chị Hiên ở nhà. Rồi mẹ và chị tôi sẽ khóc ðến phát ngất, mẹ tôi sẽ ðau buồn mà ðổ bệnh mất vì bà rất yếu, chị tôi sẽ không được đi học vì thiếu thu nhập. Hix.. rồi lũ bạn sẽ nhớ tôi, và cả Hoa Sữa..tôi chỉ muốn hét lên đến mức bạn ấy có thể nghe được rằng “Tớ thích cậu. Thật đấy!” . Nước ngập dần, nếu không nhờ áo phao thì tôi đã chìm. Ba nâng tôi lên, ông bám vào cạnh cao của thuyền chờ cứu. Mắt ba đượm buồn, tôi nghĩ ba rất lo nhưng vì không muốn tôi tuyệt vọng nên ba ra vẻ vui, mỉm cười hiền từ. Có lẽ ba đã uống vài ngụm nýớc vì cố bảo vệ tôi. Lúc này, tôi mới thấm thía câu nói của Jack Baxter “Trên đời này có bao nhiêu chiếc lá thì bằng ngàn nấy lần cha yêu con”. Tôi vừa sợ biển nhưng cũng thầm cảm ơn vì biển đã cho tôi cảm nhận được tình cha, hằng ngày tôi lì lợm, tôi không nghe lời, nhưng lần này nếu may mắn thoát chết, tôi sẽ nghe lời ba mẹ, sẽ chăm học, không để ba mẹ buồn vì tôi nữa”. Tôi xin hứa, chỉ mong sao bạn biển nghe được nỗi lòng và cho ba con tôi được sống. Tôi cố sức bơi nhưng cũng đuối sức, mắt dần nhắm lại. Ba cứ nảy mạnh thân tôi rằng tôi không được bỏ cuộc. “Ba ơi,  con yêu ba”. Một ý nghĩ khác chợt chiếm lấy tâm trí tôi “tôi không được gặp lại bạn ấy ư ”.  Cứ ngỡ đây là câu nói cuối cùng của tôi, mắt dần khép lại,…Đột nhiên  một tia sáng lóe lên, ánh đèn rọi vào mắt tôi. “Cứu hộ ư ?” Tôi chỉ kịp nhoẻn miệng cười rồi chìm vào giấc ngủ..
       Lúc tỉnh lại, xung quanh tôi là những chú cảnh sát biển và các bác ngư dân trên thuyền của ba tôi. Ba tôi rất khỏe, ba cười với tôi, nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt đen sạm nắng gió. “Tôi đang ở nơi làm việc của các chú lính hải quân mà tôi đã được thấy từ xa đây sao, tôi vui lắm, tôi vui không tả xiết.. Đúng là trong cái rủi có cái may mà”- tôi thầm cười. Tôi cố mở mắt to để nhìn, các chú cảnh sát biển. Ôi các chú trông hiền hậu mà  dũng cảm lạ kì. Ba tôi bảo các chú đã rất vất vả, đuổi bọn Tàu khựa và cứu ba con tôi. Ôi! Những chú lính hải quân. Tôi muốn ôm chầm các chú. Tôi thầm cảm ơn biển, cảm ơn các chú! Tôi yêu những con cá tươi ngon, yêu những ng chuyến ra khơi,yêu những người ngư dân bám biển và giờ đây tôi  yêu người lính biển!
        Tôi và ba trở về trong sự mong mỏi của tất cả mọi người, đặc biệt là mẹ và chị Hiên. Cả nhà tôi ôm nhau, mẹ tôi khóc, mẹ mắng tôi. Mẹ bảo sẽ không cho ba con tôi đi đánh bắt nữa. Nhưng nói là vậy thôi, không đánh bắt thì nhà tôi lấy gì mà sống, mà còn phải bám biển nữa chứ, không thì bọn Tàu khựa thêm lộng hành.         . Ôi tôi muốn làm chú cảnh sát biển thông minh, dũng cảm, kiên trì cứu giúp mọi người, bảo vệ biển đảo quê hương, đất nước..
         Ngày chúng tôi phải đi, phải rời xa  ngôi làng để vào  thành phố để học đại học .Tôi không hiểu nổi cảm xúc của mình, có gì đó bồi hồi, xốn xang không muốn rời,   Mẹ và chị tôi cứ khóc hoài, ba nắm chặt tay tôi nhìn tôi thật lâu . Còn Hoa, tôi bạn nhìn tôi với ánh mắt đen láy kì lạ. Tim tôi đập bất thường.
                                              
                                                        *
                                                 *              *
            Giờ đây, tôi đã là chàng cảnh sát biển.
         Trời đêm đầu tháng tám, trăng như chiếc lá vàng đang trôi giữa dòng sông sao. Ánh sáng bàng bạc dát lên mặt biển những đừơng vân lấp lánh. Bất giác, tôi nhớ những đêm trăng cùng lũ bạn tìm còng. Đứng trên đảo nhìn ra biển khơi mênh mông, hình bóng quê nhà lại về trong nỗi nhớ! Bãi cát sóng xô mỗi sáng mỗi chiều. Tôi như tưởng tượng thấy hình dáng của cha tôi, mẹ tôi, chị tôi, của lũ bạn tôi ngày bé. Hoa của tôi giờ đã là cô giáo! Vẫn ánh mắt ấy, vẫn nụ cười ấy, nhưng giờ đã xinh xắn hơn xưa rất nhiều rồi. Hoa vẫn đợi ngày tôi về đất liền ….
        
          Tôi nhìn ra phía xa, nơi đường chân trời giờ như sợi chỉ mảnh. Tôi biết, khi bức màn đêm này được vén lên, thì ánh bình minh sẽ hé sáng chào ngày mới. Biển cả quê hương sẽ sáng chói dưới ánh mặt trời rực rỡ sớm mai. Những con thuyền này trở về…. Những con thuyền khác sẽ ra khơi. Cuộc sống cứ tiếp nối….  Dân quê tôi vẫn sẽ muôn đời bám biển. …Tôi sẽ luôn nhìn thấy ba tôi đứng trên mũi thuyền vẩy tay chào với  nụ cười tươi tắn nhất . 

                      Lê Nguyễn Mai Linh  Lớp 8/1 trường THCS Lê Qúy Đôn -Phú Ninh 



Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2016

462/ KHÁT VỌNG TỪ MỘT MÁI TRƯỜNG


             
          Thời gian là điều kiện trải nghiệm cho những  khát vọng vốn tiềm tàng ở một vùng quê  mang tên Phú Ninh. Mới đây thôi, đâu thể vẽ nên hình hài của một con đường bởi còn lắm gian truân. Nhưng mỗi chúng tôi, dường như, đã  lắng nghe hơi thở ấm áp, sự háo hức và nhộn nhịp của cuộc sống đã bắt đầu chuyển mình để đón chào một mùa xuân mới trên chính vườn ươm này– trường THCS Lê Qúy Đôn.  
        
             Một mô hình “vượt khó
             Lê Qúy Đôn là tên trường THCS đã có từ lâu ở Thị trấn Phứ Thịnh-trung tâm huyện Phú Ninh. Ngôi trường đã được hình thành sau nhiều năm thai nghén.
            Niềm  vinh hạnh ban đầu đã nhường chỗ  cho những lo âu -“vạn sự khởi đầu nan”- của hành trình dài  nhiều gian khó.Vì số lớp rất ít, mỗi khối một lớp, nên mỗi thầy cô phải đảm nhận giảng dạy nhiều khối lớp- vừa dạy chính vừa nâng cao,vừa bồi dưỡng. Tuy tiết dạy không nhiều nhưng vất vả thì vô kể vì điều kiện đi lại xa, giáo án nhiều loại và phải tự tìm tòi mày mò khung chương trình, tài liệu nâng cao, bồi dưỡng…   
        Trong bộn bề những lo âu, đội ngũ những người thầy cô giáo dạy các lớp CLC đã có được sự quan tâm đặc biệt: sự gần gũi, động viên tận tình của các cấp lãnh đạo huyện và phòng giáo dục, của  ban giám hiệu nhà trường. Sau 2 lần  được đi tham quan học tập ở trường chuyên THCS Nguyễn Khuyến– Đà Nẵng – chúng tôi mở rộng thêm tầm mắt và học hỏi thêm nhiều về kinh nghiệm chuyên môn. Chúng tôi yên tâm hơn khi được day nơi trường mới do nhân dân Mỹ tài trợ và huyện đầu tư. Hai dãy lầu  xếp theo hình chữ  L những được khoác bộ áo sáng  rực bởi màu vàng sơn  mới. Các phòng học  của các lớp chất lượng cao  đều được  trang bị bàn ghế mới, màn hình mới. Những phòng thực hành Lí, Hóa, Nhạc, phòng Tin, phòng Lab…được đầu tư những trang thiết bị mới nhất. Khu nhà ăn  cho học sinh các lớp CLC và giáo viên  đã được xây mới  rộng rãi đẹp mắt với đầy đủ các trang vật dụng của một nhà bếp có tính qui mô bền vững đáp ứng cho hàng trăm khẩu phần ăn hằng ngày.Chúng tôi càng phấn khởi bởi đối tượng hầu hết  học sinh ngoan, hiền, chăm học, phụ huynh rất quan tâm…
           Là một huyện vùng nông thôn nghèo còn rất nhiều khó khăn, sự quan tâm đầu tư cho các lớp  CLC  như thế đã là cả sự quyết tâm và ưu ái  của các cấp lãnh đạo đối với  con em nhân dân và sự nghiệp giáo dục của địa phương. Chúng tôi hiểu: “Đây quả là mô hình vượt khó rất đặc biệt của huyện nhà"

         “Vượt khó là có niềm tin”
           Tất cả vì mực tiêu chất lượng dạy học, dưới sự chỉ đạo tận tình của các cấp lãnh đạo nhất là sự chỉ đạo về chuyên môn của phòng giáo dục của ban giám hiệu, các thầy cô  tích cực, tìm tòi nâng cao tay nghề, ứng dụng công nghệ thông tin, vận dụng phương pháp dạy học tích cực, gây hứng thú cho học sinh. Đặc biệt công tác dạy nâng cao, bồi dưỡng học sinh giỏi, dần dần ổn định về khung chương trình và có sự đầu tư nâng cao về chất ở tài liệu giảng dạy.  
          Niềm hân hoan phấn khởi đã và đang rạng rỡ trên những gương mặt của  đàn em thơ và cả những người thầy cô giáo.  Đội ngũ những thầy cô các lớp CLC ngày càng đạt yếu cầu về số lượng và đều trên chuẩn, đặc biệt là có rất nhiều thầy cô giáo tuổi đời còn rất trẻ có năng lực và mang đầy tâm huyết. Có lẽ, các em học sinh cũng  phần nào cảm nhận trong từng ánh mắt, từng lời giảng những nỗ lực hết mình, niềm yêu thương, sự kì vọng, của các thầy cô giáo. Tất cả các lớp CLC rất hào hứng  với tinh thần thi đua trong mọi phong trào:“Hoa điểm mười” “Tiết học tốt” …
          Và rồi, những mùa thi đến.  Con số gần 30 học sinh đỗ vào trường chuyên của lớp chất lượng cao trong những năm qua là niềm vui của thầy và trò. Đặc biệt là năm nay trường có nhiều giải tỉnh và giải quốc gia. Niềm vui được nhân lên khi được nghe lời tâm sự của em Phạm thị Thảo Nguyên học sinh lớp 9 có hoàn cảnh khó khăn tâm sự: “Tự hồi nào đến giờ em không có điều kiện để học thêm. Về đây học, em  ở lại trưa ăn cơm nghỉ ngơi, chiều  được học  nâng cao, bồi dưỡng, cuối tháng còn được nhận thêm tiền trợ cấp. Em dành dụm mua sách vở, sửa xe đạp. Mẹ em rất yên tâm khi hai em được  học ở đây”. Em đã thi đỗ vào trường chuyên môn văn với điểm số cao nhất.
        Thế đấy, hạnh phúc biết bao khi chính những lớp học này đã,đang và sẽ  chắt chiu bao giọt mồ hôi của niềm vui nghề giáo, được vỗ về những tâm hồn  trẻ thơ mà đời thường nhật còn nhiều nỗi khổ, nuôi dưỡng ước mơ để chờ ngày tỏa sáng và bay cao bay xa đến chân trời mới.
         Có thể nói những thành quả đáng trân trọng của về chất lượng đại trà và nhất là mũi nhọn, phong trào trong hai năm học qua sẽ làm nền móng để tinh thần  dạy và học  năm học tới  thêm phần phấn khích.
          Kể từ có các chất lượng cao, hầu hết nhân dân trong huyện rất phấn khởi. Vốn là những ngừơi nông dân nghèo mang truyền thống thần hiếu học, khát khao có được môi trường  học tập tốt nhất cho con em mình của  người vùng quê Phú Ninh, nhất là những con em học giỏi đã thành hiện thực.  Chất lượng dạy học dần chuyển biến tốt. Cô hiệu trưởng Nguyễn Thị Thúy Vy hiệu trưởng nhà trường, trong cuộc họp đầu năm,vui mừng nhận xét: “Chất lượng học lớp 9 trong năm nay có phần hơn những năm trước. Tuy nhiên, vẫn có nhiều em chưa thật sự xuất sắc nên rất cần sự tận tâm nỗ lực của các thầy cô." Và như vậy cũng đồng nghĩa với việc con đường dạy học của thầy trò các lớp CLC  trong năm nay và năm đến vẫn còn lắm gian nan và vụ mùa nặng chùm chắc hạt vẫn còn trong đợi chờ…
         Cũng có thể có rất nhiều người  không tán thành với  con đường mà Phú Ninh  đang lựa chọn cho  sự nghiệp trồng người - một con đường còn đầy gai góc. Đường là do con người tạo ra. Nhưng liệu đi mãi có thành đường không? Hơn 2 năm, một quãng thời gian khá ngắn  để đánh dấu sự vươn lên  của các lớp CLC ở  ngôi trường mang tên Lê Qúy Đôn cũng là  một quãng thời gian đủ để tạo nên những đổi thay từ giá trị vật chất đến tinh thần, sự cảm nhận của tâm hồn con người. Và  phía trước đã có ánh sáng của vừng dương để Phú Ninh tự tin hơn trên con đường về phía ánh mặt trời bởi  “Hãy đi sẽ đến, hãy tìm sẽ gặp.” Tin rằng, nơi đây sẽ  là ngôi nhà đầu tiên, là vườn ươm mầm cho những tài năng, là một nấc thang vững chắc, đã và đang thắp sáng những niềm tin và chắp cánh những ước mơ vươn tới tương lai cho tuổi thơ vùng quê nghèo hiếu học.  






 Nguyễn Thị Bích Trâm



461/ CÁI HOA - TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN MẬU HÙNG KIỆT

Link cố định 

       Nguyễn Mậu Hùng Kiệt

     Được tin cái Hoa con chị Thao mất, tôi đưa vợ con về xóm cây Thị, trước là để thắp cho con bé nén nhang, sau nhân tiện ghé thăm bà ngoại mấy đứa nhỏ. Thật ra, đây không phải là điều bất ngờ đối với tôi cũng như bà con trong xóm. Bởi gần hai mươi năm, kể từ ngày chào đời, cái Hoa vẫn nằm thỏng thượt, khóc cười, vui buồn không một ai biết được. Mỗi khi nhìn chị Thao vát cái thân thể dài ngoằng, ẻo lả của cái Hoa dạo xóm, không ai lại không ái ngại. Có người còn độc mồm, độc miệng bảo: “Giá như con bé sớm chết đi thì tốt biết mấy!”. 




Hình như lâu lắm rồi người ta không còn truy cứu trách nhiệm về cái người đã sinh ra nó. Ngày tôi mới về làm rể ở cái xóm nhỏ hiu hắt, buồn vắng này đã nghe người ta kháo nhau về người cha của cái sinh linh tội nghiệp đó. Thật ra, tôi chẳng hiểu mô, tê, răng, rứa chi cả. Người trong cuộc còn không hiểu nổi, nói gì đến tôi. Người ta nói nhiều, thậm chí đặt điều về chị Thao cũng một phần do cái Hoa khi ra đời đã không bình thường như bao đứa trẻ khác. Người thì nói như đinh đóng cột: “cái Hoa là con của anh Phồn ở xóm Núi chứ còn ai!”, kẻ thì bóng gió: “Không lẽ... là người trong nhà nên trời bắt tội ?”. Vân vân và vân vân.... Anh Phồn thì tôi biết. Anh là bộ đội xuất ngũ về sống thui thủi một mình trong xóm Núi. Gia đình chẳng còn ai. Anh là người cô độc, lầm lì, ít nói nhưng sống trung thực và có tình. Người ta đổ tội cho anh vì cứ nghĩ cái Hoa là hậu quả của người có nhiễm chất độc màu da cam. Mà anh thì đã từng vào sinh ra tử ở những vùng địch thả chất độc huỷ diệt trong những năm chiến tranh khốc liệt. Hơn nữa, điều đáng ngờ là chị Thao thường vào xóm Núi để chặt củi, bắt ốc. Còn cái chuyện trong nhà, ngoài ngõ gì đó thì tôi chịu! Tôi nghe vợ nói, chị Thao cũng là người không có cha, còn mẹ thì mất từ những năm sáu tám, sáu chín thì phải. Chị phải sống với dì dượng. Dì dượng thì chẳng có con cái gì nên họ sống với nhau cũng êm ấm lắm. Nhưng không lẽ chuyện ấy... lại là như thế? Tôi không dám nghĩ đến!. Thôi thì sự cũng đã rồi! Tôi đùa với vợ: “Đến chị Thao còn không biết của ai nói gì đến mình!”. Nói thật, đùa như vậy cũng hơi ác, bởi tôi biết, hơn ai hết chị Thao đau và buồn lắm. Một nỗi buồn câm nín!
        Nhiều khi tôi nghĩ cuộc đời cũng thật tàn nhẫn với chị Thao. Con gái xóm cây Thị, cô nào cô nấy cũng đẹp, cũng giỏi giang, học hành đến nơi đến chốn, chồng con đuề huề lại có nhà riêng dưới thị trấn, trên tỉnh, ngoài phố. Lâu lâu, đưa chồng con về thăm quê, xe cộ, quần áo, quà cóp... Xôm ra trò! Còn chị Thao, nói như ông nhà văn Nam Cao – cha đẻ của Chí Phèo, Thị Nở - thì chị đúng là trò đùa của tạo hoá. Không đến nỗi xấu như Thị Nở, nhưng chị Thao cũng hội đủ những cái cần để làm nên một cô gái xấu xí quê mùa: người thấp lùn lại đen đúa, mắt xếch, răng hô, tóc cứng như rễ tre; còn vòng một, vòng hai, vòng ba thì khỏi phải nói cứ xâm xấp bằng nhau trong sự quá cỡ. Không phải là cô gái đần độn nhưng học hành thì chẳng ra gì. Học trước quên sau. Công việc thì chăm nhưng lại rất chậm, thậm chí hơi vụng. Chỉ được mỗi cái hay cười. Chị Thao cười hiền lắm! Không biết giấu bên trong điều gì nhưng nụ cười của chị quả là một ân huệ của thượng đế. Nụ cười ấy vừa thân thiện lại vừa ấm áp. Ngày vợ chồng tôi còn sống chung với bà Ngoại của mấy đứa nhỏ ở xóm cây Thị, mỗi khi đi làm đồng, qua ngang ngõ nhà chị Thao, thế nào tôi cũng được chị ban phát cho một nụ cười. Biết chỉ là nụ cười xã giao nhưng tôi vẫn thấy lòng mình thanh thản lạ thường.
Như thách thức với số phận nghiệt ngã, cái Hoa cứ lớn lên theo cách riêng của nó. Thân thể nó như được kéo dài ra. Càng dài càng thỏng thượt, mềm oặt. Nước da trắng, trắng bợt bạt. Đôi mắt đờ đẫn, trắng dã, vô hồn. Nhìn mà đau lòng. Còn nghe nó khóc - khóc hay cười cũng thế - thì không có ruột gan nào chịu được. Nói đúng hơn tiếng kêu của nó nhói buốt và man dại lắm. Bất chấp lời ong tiếng ve của người đời, chị Thao vẫn cứ lặng lẽ mớm cơm, đút cháo cho cái “cục cưng của mẹ” (chị hay gọi cái Hoa như thế). Tôi biết từ ngày có cái Hoa, chị Thao vất vả lắm. Tiếng là có dì dượng giúp đỡ nhưng chăm sóc một đứa bé tật nguyền như Hoa quả chẳng dễ dàng tý nào. Cũng may được các tổ chức xã hội, các nhà từ thiện giúp đỡ nên cũng không đến nỗi khó khăn lắm về vật chất. Hơn thế nữa, tôi còn nghe nói, chị Thao lại được anh Phồn đặc biệt quan tâm. Có người bảo: “Thằng Phồn coi con Thao quý lắm. Có việc gì nặng cũng làm giúp. Có món gì ngon cũng gửi về cho cái Hoa...”. Mỗi lần về thăm quê vợ, tôi đều nghe người ta nói tốt về anh. Tôi nghĩ, có lẽ, người dân ở xóm cây Thị cũng muốn tác thành cho họ nên đôi, nên lứa. Nhưng chờ mãi vẫn chẳng thấy động tĩnh gì. Có lần gặp anh, tôi bạo miệng hỏi: “Anh Phồn sao chưa lấy chị Thao, còn chờ gì nữa?”. Anh cười và bảo: “Chú mày cứ nói chơi hoài. Cô ấy làm mẹ cái Hoa đã khổ lắm rồi, chú còn bảo làm vợ cái thằng Phồn khố rách áo ôm này nữa thì chịu sao nổi?”. Tôi lặng thinh nắm lấy tay anh và chẳng biết nói gì thêm nữa.
Đám ma cái Hoa không đông như tôi nghĩ. Đi sau cái quan tài nhỏ chỉ trên dưới mươi người. Tôi cầm nhánh huệ trắng đi bên vợ. Nghe vợ kể, những năm gần đây, cái Hoa đến tuổi dậy thì có những biểu hiện lạ lắm. Xóm làng đến thăm, nhìn nó bôi bẩn đến phát khiếp. Hơn nữa, nó còn thích được người khác động chạm đến những chỗ kín nữa kia... Và anh biết không, tụi con nít ở xóm, không biết có ai bày cứ nghêu ngao hát: Tội chi buôn tảo bán tần/ Ở đây với dượng, dượng mần dượng nuôi/ Tội chi buôn ngược bán xuôi/ Ở đây với dượng, dượng nuôi dượng mần...
          Tôi có cảm giác như mình đang trôi về một thế giới nào khác rất tiểu thuyết, rất kinh dị. Trước măt tôi chiếc quan tài cứ chập chờn lên xuống và như muốn đậu lại đâu đó trên lưng chừng núi có rất nhiều mây trắng. Rồi nắp quan tài bật mở, cái Hoa với đôi cánh trắng muốt bay lên giữa một vùng hào quang sáng chói.


NMHK