Thứ Bảy, ngày 04 tháng 8 năm 2012

16/ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: RÈN LUYỆN KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH QUA HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG TIẾT ĐỌC-HIỂU VĂN BẢN VÀ TIẾT LUYỆN NÓI -NGỮ VĂN 9



          II . ĐẶT VẤN ĐỀ :
             1/ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ
         Mục tiêu của dạy học môn Ngữ văn là hình thành những con người có ý thức, có tư tưởng tình cảm cao đẹp, có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mỹ và đặc biệt là có khả năng thích ứng với cuộc sống năng động trong xã hội hiện đại.
         Dạy-học Ngữ văn không chỉ chú trọng dạy cái gì mà dạy như thế nào. Quan điểm tích hợp và tích cực luôn chi phối các hoạt động dạy học Ngữ văn, nhất là ở phần dạy-học Đọc- hiểu văn bản cũng như dạy các kĩ năng làm Tập làm văn. Một tiết dạy-học Ngữ văn đạt hiệu quả trước hết phải tạo nên không khí hứng thú cho mỗi giờ học. Không khí đó chỉ có được khi người dạy biết da dạng hóa các hình thức, biện pháp dạy học.
        Mặc khác, với tinh thần quan điểm dạy học mới, SGK Ngữ văn không chỉ chú trọng nội dung mà còn chú trọng hình thức nhằm phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy-học.
        Để đạt được những mục tiêu trên và thực hiện theo yêu cầu của phương pháp dạy học mới, người dạy cần tổ chức cho học sinh học tập bằng các  biện pháp nhằm rèn cho học sinh các kỹ năng nghe, nói ,đọc ,viết . Trong đó kĩ năng nói là vô cùng quan trọng .Nói sao cho người nghe hiểu là điều không phải ai cũng thực hiện tốt. Người nói khi đã chuẩn bị đầy đủ nội dung trong đầu sẽ tìm cách bộc lộ, truyền đạt thông tin đó chính là “nói”. Muốn hoạt động nói có hiệu quả trong giờ học Ngữ văn, người dạy phải hướng dẫn rèn luyện cho các em, tập cho các em mạnh dạn trước tập thể. Nhiều khi các em có dự kiến trong đầu nhưng lại không nói ra được. Và như vậy người thầy sẽ không nhận xét đánh giá đúng về sự tiếp thu ,cảm thụ của các em trong giờ học Ngữ văn .
        Vậy rèn luyện nói cho học sinh là việc làm thiết thực vừa góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn vừa hình thành phong cách cho học sinh giúp các em mạnh dạn trước tập thể, có kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống.
           2 /THỰC TRẠNG LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ :
               Qua  bảy năm thực hiện chương trình thay sách giáo khoa, ở bộ môn Ngữ văn, hoạt động nói qua thảo luận nhóm  đặc biệt là tiết dạy “luyện nói” mặc dầu nhiều giáo viên cũng đã cố gắng hết sức nhưng cũng ít người thành công qua tiết dạy. Bởi vì kinh nghiệm rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh chưa nhiều so với rèn luyện kỹ năng viết. Học sinh không tự tin khi nói trước đám đông. Thời gian luyện nói lại có hạn (45 phút) không tạo được điều kiện cho tất cả học sinh được nói. Và sách giáo viên cũng chưa có hướng dẫn cụ thể cho việc dạy rèn luyện kỹ năng nói. Do vậy mà trong một tiết luyện nói chỉ tập trung vào những em khá, giỏi, chăm còn những học sinh lười sẽ thụ động, không phát huy được. Dù có hoạt động thảo luận nhóm thì những em yếu cũng ngồi im. Kết quả yếu vẫn yếu, lười vẫn lười. Tâm lý chung, giáo viên rất ngại dạy tiết Luyện nói, nhất là trình độ học sinh ở vùng nông thôn. So với yêu cầu của phương pháp dạy mới và những định hướng của sách giáo viên thì tiết dạy “luyện nóivà hoạt động nói qua phần thảo luận nhóm còn nhiều lúng túng chưa đạt yêu cầu.
          3/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
        Qua 4 năm thực thi chương trình thay sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn THCS, giáo viên bộ môn Ngữ văn dần dần tiếp cận và nắm vững phương pháp dạy học mới. Người thầy đóng vai trò chủ đạo hướng dẫn học sinh chủ động khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm văn chương cũng như rèn các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Tiếng việt. Các hoạt động dạy-học cần linh hoạt với những hình thức, biện pháp dạy học phong phú và có tính sáng tạo của người thầy.
        Việc rèn kĩ năng nói cho học sinh qua hoạt động thảo luận nhóm trong tiết Đọc hiểu văn bản và tiết luyện nói ở môn Ngữ văn 9 là biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giờ dạy-học Ngữ văn. Trong quá trình giảng dạy chúng tôi đã có sự  tìm tòi, học hỏi và vận dụng và đã thấy được hiệu quả. Từ đó ,chúng tôi rút ra được những vấn đề mang tính kinh nghiệm và cũng là gợi ý để tham khảo.
                   4/ GIỚI HẠN  NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
                        Với quá trình giảng dạy 3 năm ở môn Ngữ văn 9, vừa tiếp thu học hỏi, vừa thâm nhập thực tế qua những giờ lên lớp, chúng tôi tự học hỏi lẫn nhau tìm biện pháp để phát huy có hiệu quả tiết dạy, chủ yếu chú trọng tiết luyện nói. Năm nay, được học chương trình bồi dưỡng thường xuyên chu kì 2003-2007 và được tham gia các đợt sinh hoạt chuyên môn do phòng giáo dục tổ chức về chuyên đề luyện nói. Từ đó, chúng tôi đúc kết kinh nghiệm và trong điều kiện cho phép xin được trình bày về đề tài: “RÈN LUYỆN KỸ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH QUA HOẠT ĐỘNG NHÓM TRONG TIẾT  ĐỌC-HIỂU VĂN BẢN VÀ TIẾT LUYỆN NÓI Ở MÔN NGỮ VĂN 9 ”.     
 
             III/  CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
           Hiện nay, các nước trên thế giới rất coi trọng dạy học theo quan điểm giao tiếp. Đây là một trong những tư tưởng quan trọng của chiến lược dạy học các môn ngôn ngữ ở trường phổ thông, lấy hoạt động giao tiếp là một trong những căn cứ để hình thành và phát triển các hoạt động ngôn ngữ mà cụ thể là năng lực nghe, nói, đọc, viết.
        Nếu như nghe, đọc là hai kỹ năng quan trọng của hoạt động tiếp nhận thông tin, thì nói và viết là hai kỹ năng quan trọng của hoạt động bộc lộ, truyền đạt thông tin cần được rèn luyện và phát triển trong nhà trường.
        Nếu người thầy đóng vai trò chủ đạo hướng dẫn học sinh chủ động khám phá chiếm lĩnh tác phẩm văn chương, thì người học (học sinh) phải tự mình bộc lộ sự hiểu biết, phải biết phát triển tư duy thành lời - ngôn bản. Muốn cho người nghe hiểu cho được thì người nói phải nói cho tốt, có nghĩa là nói phải mạch lạc, logic, phải bảo đảm các qui tắc hội thoại, phải chú ý đến các cử chỉ, nét mặt, âm lượng… Vì thế, luyện nói là việc rất quan trọng trong quá trình dạy- học văn, là biện pháp góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả của giờ dạy học Ngữ văn. Luyện nói tốt sẽ giúp người học sẽ có được một công cụ giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống xã hội.         

       IV.CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
       Trong thực tế giảng dạy ở trường thuộc địa bàn nông thôn, đa số học sinh chưa có kỹ năng nói trước tập thể, rất ngại nói, không tự tin khi nói trước đông người. Đối với học sinh ở trường nông thôn, trình độ có hạn, phần tiếp thu còn chậm so với học sinh ở thị xã. Hơn nữa, thời gian học tập của các em rất hạn chế, bởi vì các em đa số con nhà nông. Sau buổi học về các em còn rất nhiều công việc của gia đình nên có phần ảnh hưởng đến việc học, nhất là đến vụ mùa. Với học sinh, các em có vẻ xem nhẹ hoạt động nói trong giờ học.
         Do thời gian thảo luận cũng như luyện nói quá ít so với nội dung yêu cầu, một vài giáo viên chưa chú trọng khâu luyện nói cho học sinh. Chính vì thế mà hoạt động nói của học sinh chưa đáp ứng yêu cầu mong muốn.
       Ở một vài giáo viên việc dạy tiết Đọc-hiểu văn bản rơi vào đơn điệu, nhàm chán bởi giáo viên chỉ sử dụng hệ thống câu hỏi phát vấn, đàm thoại. Những học sinh phát biểu đa số là học sinh khá giỏi. Còn những em học sinh trung bình, yếu kém thì vẫn cứ trầm lặng, nhút nhát.Việc tăng cường tính hợp tác để tạo hứng thú cho những đối tượng đó hầu như không có. Và như thế nhiều học sinh không có cơ hội để rèn kĩ năng nói. 
        Có nhiều giáo viên có sự chú ý rèn kĩ năng nói cho học sinh song còn lúng túng trong khâu soạn giảng cũng như qui trình các hoạt động lên lớp. Một phần cũng do sách giáo viên không có hướng dẫn cụ thể (nhất là ở tiết luyện nói )    
        Khi  giáo viên có sự đầu tư cho tiết dạy và hướng dẫn cho học sinh chuẩn bị chu đáo thì việc tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm trong giờ học tiết Đọc-hiểu văn bản cũng như trong tiết luyện nói đạt hiệu quả cao .Không khí học tập của học sinh khác hẳn khi GV thuyết giảng. Ở các em lộ rõ sự thích thú, đa số các thành viên trong nhóm có vẻ háo hức và nói một cách tự nhiên. Tất cả như có một luồng điện vô hình nào đó được lan truyền cho cả lớp làm nóng lên không khí học tập. Nhiều em giơ tay xin được trình bày kết quả thảo luận, được trình bày những điều mà nhóm đã phát hiện, cảm nhận tổng hợp và thật là thoả mãn với những kiến thức được chắc lọc rút ra từ chính sự hiểu biết của các em. Đó cũng là lúc GV có điều kiện để điều chỉnh và phấn khích các em học tập, thực tế niềm vui đựợc GV quan tâm sẽ cho các em thêm sự tự tin vào khả năng của mình là phải học tập tốt hơn, cố gắng hơn để được phát biểu, nói trước lớp trong lần sau.
          Để tạo được động lực niềm tin nhằm kích thích ý thức học tập bộ môn Ngữ văn của các em trước hết người thầy giáo phải là người tìm ra được những biện pháp tối ưu kích thích khả năng nói để HS nói ra được những điều mình tư duy, cảm thụ trong giờ học văn bản cũng như trong tiết luyện nói.
          Đây cũng là kĩ năng vừa giúp các em thể hiện mình, tự bày tỏ những suy nghĩ cảm xúc những điều cảm thụ, phân tích, đánh giá một cách tự tin trứơc tập thể. Vừa là biện pháp có khả năng khắc phục đựơc những khó khăn, thực trạng mà chúng ta đang quan tâm. Từ đó nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn.                    
      V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
          CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
      1.YÊU CẦU ĐỐI VỚI HỌC SINH  
        Ngay từ đầu năm học, chúng tôi phổ biến những qui định đối với môn Ngữ văn  đối với việc học Ngữ văn nói chung và cho kĩ năng luyện nói nói riêng để học sinh  có tâm thế chuẩn bị :
           a.Dụng cụ :
               -  Đầy đủ sách giáo khoa
               - Vở : Vở học, vở soạn, vở bài tập
               - Bảng phụ (4 em có một bảng phụ). Bảng phụ các em có thể dùng tờ lịch cũ bọc giấy bóng ngoài. Một cây bút lông. Hoặc các em có thể mua bảng  giấy da đen cỡ (80-60cm) nhưng bảng đen thì việc đem đi học hơi cồng kềnh nên dùng bảng phụ bằng giấy lịch bọc nhựa tiện hơn.
           b.Chia nhóm :
       Để tiện việc hoạt động, thảo luận nhóm, chúng tôi chia lớp làm 10 nhóm, mỗi nhóm 4 em liền kề nhau (bàn trên và bàn dưới) cho câu hỏi thảo luận ngắn trong một tiết học văn bản hoặc tiếng việt.
       Đối với tiết luyện nói, chia lớp làm năm nhóm, mỗi nhóm từ 7-8 em. Trong mỗi nhóm cử ra một em viết chữ rõ ràng chịu trách nhiệm ghi vào bảng phụ sau khi đã thống nhất ý kiến trong nhóm. Các em còn lại trong nhóm đều ghi vào vở soạn của mình ý kiến thống nhất của tổ.
            c. Cách học  :
               - Chuẩn bị bài mới ở nhà:  Tự tay em soạn bài mới, không phải dùng vở soạn cũ của anh, chị để lại, học phân môn nào soạn theo phân môn đó. Đặc biệt tiết Luyện nói phải soạn một dàn ý chi tiết và phải dự kiến lời nói dựa vào dàn ý đó.
               -  Hoạt động trong giờ học: thảo luận nhóm, phát biểu xây dựng bài.
            d. Truy bài 15 phút :
               - Trong sinh hoạt 15 phút, ngoài việc làm bài tập, câu hỏi khó ở bài soạn, lớp trưởng phải kiểm tra tình hình soạn bài của lớp qua tổ trưởng.
               - Trước khi vào tiết học, lớp trưởng báo cáo tình hình chuẩn bị bài cho giáo viên. Nếu giáo viên kiểm tra phát hiện một trường hợp không chuẩn bị bài mà lớp trưởng không báo cáo thì lớp trưởng và tổ trưởng của em đó chịu trách nhiệm (trừ điểm thi đua )
            ae.  Phiếu đánh giá nhận xét ( dành cho phần luyện nói)
          Mỗi em phải có phiếu nhận xét trong sổ tay. Sổ này dùng cho suốt năm học.

       
           Ngày  :
           Môn   :
           Họ và tên :
            Phần nhận xét, đánh giá :
- Tác phong nói :
- Giọng nói   : 
- Nội dung nói :
       2/ Yêu cầu đối với giáo viên :
         - Chuẩn bị bài thật chu đáo trước khi lên lớp nói chung và nhất là cho những tiết rèn cho học sinh kĩ năng nói
           - Dặn dò  học sinh cụ thể các nội dung chuẩn bị cho bài học mới
         -Chú ý ,theo dõi và ghi chép những vấn đề cần nhận xét đối với học sinh trong quá trình luyện nói
         - Luôn tìm ra những ưu điểm trong phần trình bày của từng học sinh và khen các em kịp thời trước lớp để động viên tạo hứng thú nói cho cả lớp
            - Đối với những em còn rụt rè, nhút nhát hoặc nói nhỏ ,giáo viên cho nói những phần có nội dung đơn giản dễ trình bày và nên cố phát hiện ra nhũng ưu điểm của các em trong tác phong, lời nói để khen .Nếu có nhũng điểm chưa hài lòng thì nhắc nhở thật khéo léo, tế nhị để các em tự tin hơn ở lần nói sau.
           - Sau mỗi lần trình bày nói trước lớp giáo viên khuyến khích bằng những tràn vỗ tay để tạo không khí sôi nổi cho giờ học
           - Chọn những em nói tốt trình bày cả bài luyện nói để tạo ấn tượng cho cả lớp khi sắp kết thúc tiết học. Đó sẽ là điều kích thích niềm mong muốn  được nói hay như bạn ở nhiều đối tượng để các em chuẩn bị thật kĩ cho bài luyện nói ở những bài sau.
           - Cho điểm khuyến khích đối  với những em nói tốt ,những em có sự cố gắng trong quá trình luyện nói.
     3/ RÈN KĨ NĂNG NÓI QUA HOẠT ĐỘNG THẢO LUẬN NHÓM TRONG TIẾT ĐỌC HIỂU VĂN BẢN      
          Thường trong một tiết học Ngữ văn sẽ có từ 2-3 câu hỏi thảo luận nhóm, thời gian thảo luận từ 2-3 phút, thường là dạng câu hỏi mở, chúng tôi cho các em thảo luận nhóm 4. Đây là những câu hỏi ngắn, học sinh tư duy trả lời :
           - Trước hết cá nhân trình bày quan điểm của mình trước nhóm :                                                                      Các em cần đọc kỹ câu hỏi, xác định nội dung yêu cầu của câu hỏi, suy nghĩ và viết ra trong vở của mình, sau đó trình bày ra nhóm, nêu ý kiến của mình giống bạn thì nhất trí khỏi phải nói lại mất thời gian .Từ các ý kiến, nhóm trưởng khái quát lại nội dung mà nhóm đã nhất trí, mỗi em trong nhóm phải nắm vững nội dung đó. Em được cử ghi chép sẽ ghi vào bảng phụ.
           - Trình bày ý kiến của nhóm trước lớp
        Hết thời gian thảo luận giáo viên có thể gọi bất kỳ một em trong nhóm trả lời. Các nhóm còn lại  sẽ nhận xét ý kiến về phần trình bày của tổ bạn
-         Giáo viên nhận xét:
             Cần chú ý hai mặt :
                  + Nội dung nói : phải đáp ứng yêu cầu của câu hỏi thảo luận nhóm không thiếu ,không thừa tránh dàn trải, lan man thiếu tập trung.
                  + Kĩ năng nói : trình bày lưu loát ,mạch lạc làm nỗi rõ vấn đề bằng giọng nói tự nhiên to rõ dễ nghe dễ theo dõi, tránh đọc ê a, hoặc nói quá nhỏ, nói nhát gừng...
          Thảo luận nhóm là một hình thức hoạt động dạy học tạo môi trường thuận lợi cho học sinh trao đổi, bàn bạc một cách tự nhiên trước những thành viên đồng trang lứa có quan hệ bè bạn gần gũi về những vấn đề nội dung, ý nghĩa ,giá trị nghệ thuật của văn bản văn học. Các em có sự đoàn kết hợp tác để từ đó phát triển khả năng nhận thức cảm thụ về văn học, mạnh dạn giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình khai thác phân tích văn bản. Đặc biệt là qua thảo luận nhóm, kĩ năng nói của học sinh của học sinh được học sinh rèn luyện dần dần một cách chắc chắn, hiệu quả       
     * Một số câu hỏi thảo luận nhóm để luyện nói cho học sinh trong tiết Đọc -hiểu văn bản
        Thời gian thảo luận là 1-2 phút.
           Ở bài “ Phong cách Hồ Chí Minh”, sau khi học sinh tìm  hiểu được cách tiếp xúc văn hóa của Bác,GV cho học sinh thảo luận câu hỏi : “ Cách tiếp xúc văn hóa của Bác cho ta thấy vẻ đẹp nào trong phong cách của Bác ?” Hoặc câu  “Vì sao có thể nói lối sống của Bác là sự kết hợp giữa giản dị và thanh cao “ ?
           Ở bài : “ Đấu tranh cho một thế giới hòa bình”, Trong quá trình phân tích ở ý 3 ( Chiến tranh hạt nhân là cực kỳ phi lý ) sẽ cho HS thảo luận câu hỏi: “Theo tác giả, trái đất chỉ là cái làng nhỏ trong vũ trụ nhưng lại là nơi độc nhất có phép mầu của sự sống trong hệ mặt trời. Em hiểu như thế nào về ý nghĩ ấy ?” ( HS có thể trả lời : Trong vũ trụ, trái đất chỉ là một hành tinh nhỏ nhưng là hành tinh duy nhất có sự sống. Khoa học chưa khám phá được sự sống ở nơi nào khác ngoài trái đất. Đó là sự thiêng liêng kỳ diệu của trái đất nhỏ bé của chúng ta ).
           Ở bài : “ Tuyên bố về sự sống còn quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em”. Trong phần tìm hiểu nội dung ở phần 2,có  thể cho HS thảo luận câu :“ Theo em, những nỗi bất hạnh mà trẻ em thế giới phải chịu có thể giải quyết bằng cách nào ?”( Loại bỏ chiến tranh, bạo lực, xóa bỏ đói nghèo…..)
           Ở bài : “ Người con gái Nam Xương”, Ở cuối bài ta có thể cho HS thảo luận câu : “Một con người có phẩm chất tốt đẹp, khát khao hạnh phúc gia đình như Vũ Nương đã từ chối nhân gian. Điều đó giúp em hiểu gì về hiện thực cuộc sống và hạnh  phúc  của  người phụ  nữ dưới  chế độ  phong kiến ?”
( Hiện thực cuộc sống áp bức bất công. Trong cuộc sống ấy những con người bé nhỏ, đức hạnh không thể tự bảo vệ được hạnh phúc chính đáng của mình ).
           Ở bài : “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, sau khi cho HS phát hiện những cảnh được gợi tả ở 8 câu cuối, cho HS thảo luận câu : “Mỗi cảnh được diễn tả bằng một cặp câu thơ lục bát gợi liên tưởng đến thân phận và nỗi buồn riêng của Kiều. Hãy diễn giải điều này trên từng nét cảnh ?( HS phân tích từng cặp câu )
           Ở bài : “Lục Vân Tiên gặp nạn”, sau khi phân tích về hành động của Trịnh Hâm, cho HS thảo luận câu : “ Ý kiến của em như thế nào về Trịnh Hâm, khi Vân Tiên đã từng là bạn của Trịnh Hâm ? Từ đó em có suy nghĩ về lòng ghen ghét của con người ? ( Lòng đố kỵ là nguyên nhân của sự phản bội và tội ác). Hay câu : “Qua tấm lòng nhân nghĩa và cuộc sống của ông Ngư, Nguyễn Đình Chiểu muốn bày tỏ tình cảm gì đối với người lao động ? ( Tin yêu và quý trọng nhân cách của những người lao động).
           Ở bài “Đồng chí”, cho HS đọc đoạn thơ thứ 2 và cho HS thảo luận câu hỏi : “ Em cảm nhận được vẻ đẹp nào của tình đồng chí ?”( Vẻ đẹp của tình yêu thương mộc mạc, chân thành, thắm thiết, đồng cam cộng khổ chia nhau cái chết nơi chiến hào ...)
            Ở bài : Đoàn thuyền đánh cá”,  cuối bài có thể cho HS thảo luận câu:   “Theo em, nhờ đâu nhà thơ sáng tác nên bài thơ Đoàn thuyền đánh cá với những câu thơ hấp dẫn như vậy ?”(Trực tiếp quan sát; Dồi dào trí tưởng tượng; Tấm lòng tha thiết với vẻ đẹp và sự giàu có của đất nước……)
            Ở bài “Bếp lửa”, cho HS thảo luận Câu: “Khi viết lời thơ: Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở-Sáng mai này bà nhóm bếp lên chưa?” Người cháu muốn nhắc bà nhóm lửa? hay nhắc ai? Nhắc điều gì?” (Tự nhắc mình không được quên những lận đận đời bà, không được quên tấm lòng ấm áp của bà, không được quên sự tận tụy hy sinh và tình nghĩa của bà……)
           Ở bài “Ánh trăng”, có thể cho thảo luận câu: Từ sự xa cách giữa người và trăng, nhà thơ muốn nhắc nhở điều gì? Vì sao có sự xa lạ, cách biệt giữa người và trăng? (Vì không gian khác biệt ; thời gian khác biệt; điều kiện sống nên có sự cách biệt. Từ đó nhà thơ muốn nhắc nhở không nên quên quá khứ, phải thủy chung…). Hoặc câu : “Nếu  ánh trăng tượng trưng cho vẻ đẹp và những giá trị truyền thống, thì lời thơ nói về sự vô tình và giật mình của con người trước trăng có ý nhắc nhở ta điều gì trong cuộc sống ?” (Phải trân trọng, giữ gìn vẻ đẹp và những giá trị truyền thống, lãng quên quá khứ tốt đẹp là phản bội lại chính bản thân mình….).
           Ở bài “ Lặng lẽ Sa Pa”, ở cuối bài cho HS thảo luận câu: “Vì sao tác giả không đặt tên cụ thể cho từng nhân vật của mình mà chỉ gọi theo giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp ?” (Để ca ngợi những con người có phẩm chất tốt đẹp ở mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề, những con người âm thầm lặng lẽ cống hiến cho tổ quốc, làm tăng thêm sức khái quát của truyện…..).
           Ở bài “ Chiếc lược ngà” khi phân tích nhân vật bé Thu, có thể cho HS thảo luận câu: “Bé Thu đã không nhận Ba vì vết sẹo trên mặt ông Sáu, nhưng cũng từ vết sẹo ấy, Thu đã nhận ra người cha yêu quí của mình. Theo em, có thể hiểu như thế được không? Vì sao? (Được, vì Thu sợ vết sẹo do chưa biết ông Sáu là cha mình. Khi biết ba mình là Ông Sáu, Thu đã hôn lên vết sẹo trên má ba nó. Đó là tình cảm ruột thịt….). Hay câu : “Đọc Chiếc lược ngà, em cảm nhận được vẻ đẹp nào trong tình cảm cha con Bé Thu? (Tình cha con sâu nặng, bền chặt dù trong hoàn cảnh éo le…….).
            Ở bài “ Bàn về đọc sách” sau khi tìm hiểu văn bản, cho HS thảo luận câu: “Những lời bàn trong văn bản “Bàn về đọc sách” cho ta những lời khuyên bổ ích nào về sách và việc đọc sách ?” (Sách là tài sản tinh thần quí giá của nhân loại. Muốn có học vấn phải đọc sách. Biết cách đọc sách thì mới tích lũy và nâng cao học vấn….). Hay là câu: “Cách viết văn nghị luận trong bài “Tiếng nói của văn nghệ có gì giống và khác so với bài “Bàn về đọc sách”? (đều là lập luận từ các luận cứ giàu lý lẽ, dẫn chứng xác thực. Khác: Tiếng nói văn nghệ là bài nghị luận văn học nên có sự tinh tế trong phân tích, sắc sảo trong tổng hợp, lời văn giàu hình ảnh và gợi cảm….).
             Ở bài “Chó Sói và Cừu trong thơ ngụ ngôn của La-phông-Ten” thảo luận câu : “Trong hai cách nhìn của Buy-Phông và của La-Phông-Ten về loài vật, em thích cách nhìn nào hơn? Vì sao? (HS tự bộc lộ).
              Trong bài “ Con cò”,có câu thảo luận : “Hình tượng con cò xuyên suốt lời ru với những biểu tượng nào? (Con cò, đứa con nhỏ, người mẹ, cuộc đời) Hoặc câu: “Đọc bài thơ Con cò, em cảm nhận những điều cao đẹp nào của tình mẹ và những lời ru ? (Tình mẹ là tình cảm cao đẹp và bền bỉ vì nó được xây đắp bằng đức tính hy sinh quên mình của tình yêu thương che chở…. Lời hát ru rất cần thiết vì nó nuôi dưỡng và bồi đắp lòng nhân ái trong cuộc đời mỗi con người….).
              Bài “ Nói với con” cho thảo luận câu: “Em cảm nhận như thế nào về lời thơ: “Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương-Còn quê hương thì làm phong tục?” (Con người lao động sáng tạo để tồn tại, để giữ vững truyền thống dân tộc, có ý chí vươn lên không chùn bước trước khó khăn. Giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc. Ý chí sống can trường dũng cảm…).
              Bài “Mây và sóng” cho thảo luận câu : “Bài Mây và sóng nói với ta những điều tốt đẹp nào trong cuộc sống tình cảm của con người? ” (Tình yêu mẹ là niềm vui thiêng liêng, bền chặt trong tâm hồn con người).
              Bài “ Những ngôi sao xa xôi”, thảo luận câu: “Qua truyện Những ngôi sao xa xôi em hiểu gì về phẩm chất của thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước? ” (Sống trong sáng- không quản gian khổ, hy sinh…)
           Với những câu hỏi có tính chất tình huống hoặc khái quát ,tổng hợp vấn đề cảm thụ văn học như trên đòi hỏi các em có tinh thần hợp tác .Và chính sự hợp tác đó sẽ giúp các em nói một cách tự tin hơn.
      4/ RÈN KĨ NĂNG NÓI QUA TIẾT LUYỆN NÓI Ở PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN :
a.Xác định mục đích yêu cầu của việc luyện nói :
             Để cho học sinh có thể thực hiện tốt tiết luyện nói, chúng tôi cho trước đề tài cho các em về nhà soạn, hướng dẫn các em:
         - Xác định đề tài (Nói cái gì ?)
         - Xác định đối tượng giao tiếp (Nói trong hoàn cảnh nào ?)
          - Xác định mục đích giao tiếp (Nói để làm gì ?)
          - Cách thức giao tiếp (Nói cho thuyết phục người nghe)
         - Nói cho có hiệu quả (Phải thu thập, lựa chọn điều cần nói)
         - Tạo tâm thế vững vàng khi nói : Tự tin, mạnh dạn
         - Tác phong tự nhiên, giọng rõ ràng quán xuyến người nghe.
         - Yêu cầu tập thể lớp chú ý lắng nghe, theo dõi ghi chép ,nhận xét
           b. Hướng dẫn học sinh soạn bài trước ở nhà :
         Mỗi em đều phải soạn bài vào vở bài tập của mình ở nhà. Tới lớp, trước khi tiến hành luyện nói, lớp trưởng kiểm tra việc soạn bài của lớp thông qua tổ trưởng, nhóm trưởng, sau đó báo cáo cho giáo viên. Để kiểm tra lại giáo viên kiểm tra lại khoảng từ 5-10 em
           d 3. Tiến hành luyện nói :
           Trước hết giáo viên cho học sinh nêu lại đề bài và ghi lên bảng. Tiếp theo cho các em phân tích đề và nêu nội dung yêu cầu cần đạt theo các bước tiến hành mà các em đã học. Sau đó, giáo viên treo bảng phụ có ghi dàn ý để các em theo dõi và cho các em thảo luận và nói theo nhóm lớn (7-8 em). Phần mở bài cho một nhóm thảo luận; phần thân bài có thể cho 2-3 nhóm thảo luận, tùy theo số luận điểm của đề tài; phần kết luận, một nhóm thảo luận.Thời gian thảo luận và nói trước nhóm là 10 phút. Trong quá trình thảo luận, mỗi em  trong nhóm phải nói lên được nội dung mà mình đã soạn ở nhà để cả nhóm bàn bạc góp ý đi đến thống nhất và hình thành một đoạn văn tương đối hoàn chỉnh. Em được phân công ghi sẽ ghi ý chính vào bảng phụ. Cả nhóm đều phải nắm vững ý kiến chung của tổ. Hết thời gian thảo luận, chúng tôi gọi một em đại diện trong nhóm trả lời. Khi có một em nói, cả lớp sẽ theo dõi, ghi nhận xét vào phiếu. Mỗi một em trình bày xong, chúng tôi sẽ chỉ định một em nhận xét đánh giá (có thể 2-3 em nhận xét). Sau khi các nhóm trình bày xong, chúng tôi cho một em khá hoặc giỏi nói lại toàn bài cho cả lớp nghe. Cuối cùng giáo viên góp ý bổ sung để lớp rút kinh nghiệm.   
          Các bước thực hiện trong tiết luyện nói chúng tôi tiến hành theo trình tự sau đây:
              - Bước 1: Kiểm tra việc chuẩn bị bài luyện nói của học sinh (2phút)
              - Bước 2: Giáo viên cùng học sinh tìm hiểu đề và xây dựng dàn bài đại cương (3-5 phút)
              - Bước 3: Giáo viên nêu yêu cầu về hình thức nói và nội dung nói (2phút)
              - Bước 4: HS luyện nói trong nhóm ( 10 phút)
              - Bước 5: HS luyện nói trước lớp ( 20-25 phút)
              - Bước 5: Giáo viên tổng kết tiết luyện nói (3phút).
         Đối với lớp 9, có 2 tiết luyện nói. Đó là: Luyện nói về tự sự kết hợp với nghị luận và miêu tả nội tâm; Luyện nói về văn nghị luận: Nghị luận về một đoạn thơ-bài thơ.
           Trong giờ luyện nói, chúng tôi chú ý nhắc nhở HS mấy điểm sau:
            - Phải soạn bài ở nhà trước, soạn một dàn ý chi tiết và tự tập nói trước ở nhà cho suôn sẻ, mạch lạc.
            - Khi nói trước tổ, trước nhóm phải nói rõ ràng, mắt tập trung hướng vào người nghe.
           Để tiết học có kết quả, chúng tôi cho HS đề về nhà soạn trước (Chỉ soạn đề cương).
       c . Định hướng dàn ý cho tiết luyện nói
           Ở tiết luyện nói thứ nhất  (Phần văn tự sự kết hợp với nghị luận). Có thể chọn 1 trong 3 đề có ở sách giáo khoa phần luyện tập. Tôi chọn đề 3: “Dựa vào nội dung phần đầu tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” đến chỗ trót đã qua. Hãy đóng vai Trương Sinh kể lại câu chuyện và bày tỏ niềm ân hận.”
         Trước khi tiến hành luyện nói, Giáo viên kiểm tra vở soạn của HS và các em trình bày dàn ý vào bảng phụ, sau đó GV chốt lại và đưa ra bảng phụ mà GV đã chuẩn  bị sẵn lên bảng đen cho HS theo dõi để luyện nói và hướng dẫn HS :
                  - Phải xác định ngôi kể cho phù hợp (Tôi)
                  - Phải hóa thân vào Trương Sinh kể lại câu chuyện theo trình tự
                  - Các nhân vật và các sự việc còn lại chỉ có vai trò như một cái cớ để nhân vật Tôi giải bày tâm trạng của mình.
                                    Dàn ý:
1.     Mở bài : Tự giới thiệu về mình, nêu mối quan hệ với Vũ Nương trong câu chuyện.
2.     Thân bài: Kể lại nội dung đoạn truyện (ngôi kể là ngôi thứ nhất: tôi – Trương Sinh). Trong quá trình kể có thể hiện sự hối hận của người kể.
3.     Kết luận: Trương Sinh suy nghĩ về cái chết của Vũ Nương và ân hận về việc làm của mình
Ở tiết luyện nói thứ 2 trong chương trình (Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ). Có thể linh động chọn đề bài sau:
   Đề: Phân tích khổ thơ đầu trong bài “Sang thu “của Hữu Thỉnh.
          a. Yêu cầu :
              - Nghị luận về một khổ thơ trong bài thơ
             - Vấn đề nghị luận: Phân tích, cảm nhận về cái hay cái đẹp về  nội dung và hình thức của khổ thơ đầu trong bài thơ “Sang thu” của nhà thơ Hữu Thỉnh
          b. Dàn ý :
               1. Mở bài : - Giới thiệu tác giả-Tác phẩm
                                     - Giới thiệu khổ thơ đầu-Nêu khái quát về giá trị nội dung của khổ thơ.
               2. Thân bài :
                    * Cảm nhận thu sang của tác giả (Phân tích vai trò của các giác quan)
            - Bức tranh vô hình của thời gian: Khúc giao mùa: hạ-thu
                     - Bức tranh được vẽ lên bởi giác quan đa dạng của người họa sĩ. (Bắt đầu là khứu giác"xúc giác -> Thị giác -> đến cảm nhận của nhà thơ)
            - “Mùi hương ổi phả vào trong gió se”- Câu thơ có cái ấm nồng của mùa hạ lại có cái lạnh se của mùa thu -> Sự giao mùa kỳ diệu. Dòng cảm xúc bất ngờ.
           - Hai câu thơ đầu thoáng chút bâng khuâng xao xuyến.
          - Mạch cảm xúc tiếp tục ở 2 câu cuối:  “Sương chùng chình qua ngõ-Hình như thu đã về”: Sương chùng chình đi qua như cố ý chậm lại. Một cảm giác mơ hồ, hư hư thực thực ấy đã gợi nên một thời điểm nhạy cảm rất khó xác định “ hình như thu đã về”
                    * Phân tích vẻ đẹp, hay của các từ ngữ “hương ổi, phả, gió se, chùng chình, hình như”
                     * Suy nghĩ về mùa thu thiên nhiên thời khắc giao mùa :
              - Từ cái bất ngờ nhận ra tín hiệu mùa thu, xen lẫn vào những cảm xúc có phần nào bâng khuâng luyến tiếc.
              - Cảm nhận bằng các giác quan một cách tinh tế nhạy cảm Qua đó thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu làng quê , yêu  mùa thu.                       
              3. Kết luận :
              - Qua hình ảnh, hương vị quen thuộc, gần gũi đặc trưng của mùa thu và những cảm nhận tinh tế, tác giả đã thể hiện thành công vẻ đẹp thiên nhiên thời điểm giao mùa.
d .Những điểm cần chú ý trong tiết luyện nói :
 - Ở tiết luyện nói nào cũng chú ý khâu chuẩn bị của học sinh, các em chuẩn bị càng kĩ tiết luyện nói càng hiệu quả
 - Ở tiết dạy trên lớp, giáo viên cần :
        + tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm và luyện nói trước nhóm, nói trước lớp
        + chú ý hướng dẫn kĩ về hình thức và nội dung nói
        + theo dõi và cho học sinh ghi chép những điều cần nhận xét
    5/ RÈN KĨ NĂNG NÓI QUA MỘT GIÁO ÁN CỤ THỂ   
        Với  những lớp mà đối tượng học sinh đa số học tốt môn văn thì giáo viên có thể cho luyện nói theo yêu cầu của đề bài trong sách giáo khoa (tiết 140 -Luyện nói -Nghị luận về một đoạn thơ bài thơ).Việc rèn kĩ năng nói cho học sinh đã được chúng tôi chú ý thể hiện qua các hoạt động dạy- học ở giáo án sau đây.
      Tiết  140                                     LUYỆN NÓI :
                       NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ
I) Mục tiêu cần đạt :
      Giúp học sinh củng cố kiến thức về cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ
     -Luyện tập kĩ năng nói và đặc biệt là nói trước tập thể đông người một cách tự tin rõ ràng, mạch lạc
 2.Học sinh :    
                            - Hs âoüc laûi baìi thå Bếp lửa
                           - Lập dàn ý theo đề bài : Bếp lửa sưởi ấm một đời – Bàn về bài thơ bếp lửa của Bằng Việt
                            - Chuẩn bị dàn ý đại cương, dàn ý chi tiết, bảng phụ
                            - Đem sgk låïp 9/1, táûp trçnh baìy theo daìn yï træåïc åí nhaì     
 III/ Tiến trình tổ chức các họat động dạy học :
     1) Ổn định lớp :       
     2) Kiểm tra bài cũ : (5 phút) GV kiểm tra việc chuẩn bị bài của học sinh
     3) Giới thiệu bài mới : (2 phút )
      Việc rèn kỹ năng rất cần thiết đối với các em .Nói như thế nào cho rõ ràng mạch lạc, tự tin nhất là trình bày nói cho bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ như hôm nay. Cô tin rằng với sự chuẩn bị có nhiều cố gắng của các em, tiết luyện nói hôm nay sẽ đạt được những hiệu quả tốt.
      4) Các hoạt động dạy - học :
         Hoạt động của thầy
          Hoạt động của trò
 Hoạt động 1: Hướng dẫn học sinh, phân tích đề, lập dàn ý
GV: Nhắc lại qui trình của một bài tập làm văn? (hs trả lời, gv nhắc lại cho học sinh khắc sâu)
GV cho học sinh nhắc lại đề bài, gv ghi bảng.
GV:
+ Đề bài thuộc kiểu bài gì?
+ Dạng bài nghị luận cụ thể là gì ?
+ Đề yêu cầu nghị luận về vấn đề nào trong bài thơ ?
GV chốt :Về kiểu bài, dạng bài nghi luận về Bài thơ, (ghi bảng Phần phân tích đề)
Hướng dẫn hs lập ý:
+ Theo yêu cầu đề tài, phần mở bài ta phải làm gì?
+ Phần thân bài, để nghị luận về vấn đề đó trong bài thơ, em cần xây dựng hệ thống luận điểm như thế nào?
+Dùng những luận cứ, luận chứng nào?
+Kết bài ra sao?
(cho hs trao đổi nhóm, thảo luận) sau đó ghi bảng phụ và trình bày ở bảng, các nhóm khác nhận xét, gv nhận xét về dàn ý và đưa ra dàn ý đại cương ở bảng phụ cho hs tham khảo và so sánh.
Hoạt động 2: Hướng dẫn hs tiến hành nói.
GV cho học sinh nói trong nhóm (10ph), nói trước lớp 20 ph.
GV hướng dẫn yêu cầu nói.
+ Nói trước nhóm: Đứng lên, mỗi em nói một phần theo qui định của tổ, cả tổ chú ý lắng nghe và chọn bạn nói tốt nhất đề xuất nói trước lớp.
+ Nói trước lớp cần chú ý:
  - Về hình thức: Có lời mở đầu (lời chào, giới thiệu) lời kết thúc (lời cảm ơn); lời nói rõ ràng, gọn, có ngữ điệu; chú ý quán xuyến đối tượng nghe.
 - Về nội dung: Đảm bảo nội dung trong dàn ý, ý mạch lạc.
+ Đối tượng nghe: Tập trung theo dõi bạn nói, nhận xét bạn nói theo yêu cầu trên.
Tiến hành nói: Sau 10 phút nói trong nhóm, gv cho hs nói trước lớp:
+ 2 em nói MB
+ 2 em nói TB
+ 2 em nói KB
+ 2 em nói cả bài
+ 2 em nói cho cả lớp nhận xét, so sánh, rút ra ưu điểm, hạn chế
+gv nháûn xeït, chè ra æu âiãøm, khuyãút âiãøm, bäø sung nhæîng yï coìn thiãúu soït
Hoạt động 3: GV tổng kết tiết học.
  + Nhận xét về sự chuẩn bị của hs.
  + Về tiết luyện nói của hs: ưu điểm, tồn tại, cần khắc phục ở tiết sau...
Hoạt động 4: Hướng dẫn chuẩn bị tiết sau.
  Chuẩn bị bài: Văn bản Những ngôi sao xa xôi

Đề bài:
      Bếp lửa sưởi ấm một đời –Bàn về bài thơ bếp lửa của Bằng Việt



I/ Phân tích đề:
1.     Kiểu bài: Nghị luận về bài thơ
2.     Nội dung: Bếp lửa sưởi ấm một đời. (Bếp lửa từ trong kỉ niệm của tuổi thơ luôn sưởi ấm tâm hồn, nâng đỡ con người trên chặng hành trình dài của cuộc đời )




II/ Dàn ý đại cương
1.     Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Bằng Việt và bài thơ Bếp lửa
- Khái quát giá trị của bài thơ và hình ảnh Bếp lửa
2.     Thân bài: Nghị luận về vấn đề trong bài thơ
a.     Hình ảnh Bếp lửa khơi nguồn cho những cảm xúc về bà :
-Sự liên tưởng từ hình ảnh thân thương,ấm áp : Bếp lửa
- Bếp lửa của tuổi thơ nhọc nhằn gian khổ sống bên bà
b.Bếp lửa sưởi ấm tâm hồn tuổi thơ thơ
-Bếp lửa hiện diện như tình bà ấm áp
 -Bếp lửa gợi những liên tưởng trong kỉ niệm về  bà
c.Bếp lửa với những suy ngẫm về bà
-  Bà là người nhóm lửa ,người giữ lửa .
- Ngọn lửa trở thành kỉ niệm thân thương ,thành niềm tin thiêng liêng kì diệu .
- Ngọn lửa của tình yêu thương ,niềm tin nâng bước cháu trong suốt chặng đường dài của cuộc đời
d.Bếp lửa-hình tượng thơ đặc sắc :
->Vừa mang ý nghĩa thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng
3.     Kết bài:
 - Khẳng định giá trị của hình tượng bếp lửa
- Suy nghĩcủa bản thân về hình ảnh Bếp lửa





  

   
VI/ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
            Qua 3 năm được phân công dạy Ngữ văn 9, Năm học 07-08, với những cố gắng của chúng tôi trong việc Rèn kĩ năng nói qua hoạt động thảo luận nhóm cho học sinh đã có những hiệu quả nhất định. Học sinh tham gia phát biểu sôi nổi, có chiều hướng ham thích học môn văn hơn. Học sinh có tinh thần tập thể cao, có tinh thần tự giác, ý thức được việc học tập. Với biện pháp thực hiện trên giúp học sinh mạnh dạn hơn khi nói trước đám đông, có thói quen tốt trong việc học. Và cũng giúp cho những em học yếu, lười không còn ỷ lại trông chờ vào những em học khá. Từ em khá đến em yếu đều có thể nói được trước lớp.
           Qua quá trình rèn luyện, trong năm học 2007-2008, kết quả về chất lượng của việc luyện nói cũng như chất lượng môn Ngữ văn cao hơn kết quả của năm học 2006-2007.Cụ thể như sau :
·        Năm học 2006-2007:
Học kỳ I :  Điểm TB môn Ngữ văn đạt  80%  TB trở lên
            Học kỳ II:  Điểm TB môn Ngữ văn đạt  84%  TB trở lên
             Cả năm :   Điểm TB môn Ngữ văn đạt  84%  TB trở lên
·        Năm học 2007-2008:
Chất lượng khảo sát đầu năm môn Ngữ văn ở các lớp chúng tôi giảng dạy là : 46% học sinh trung bình trở lên
             Học kỳ I:  70% học sinh nói suôn sẻ, diễn đạt gọn gàng dễ nghe, trình bày nội dung tương đối đầy đủ dẫn tới điểm TB môn Ngữ văn đạt 82% TB trở lên (cao hơn so với cùng kì năm trước  )
           Học kỳ II : 85% học sinh khi nói trình bày một vấn đề tương đối gãy gọn, rất tự tin trước tập thể, mạnh dạn. Điểm TB môn Ngữ văn đạt  93% TB trở lên (cao hơn so với cùng kì năm trước)
             Cả năm : Điểm TB môn Ngữ văn đạt 93% TB trở lên (cao hơn so với năm trước và chuyển biến vượt bậc so với khảo sát chất lượng đầu năm)
              VII /. KẾT LUẬN :
        Bài học kinh nghiệm mà chúng tôi rút ra được từ quá trình nghiên cứu và vận dụng như sau :
             1. Về giáo viên :
        Muốn  thực hiện đạt yêu cầu việc luyện nói cho học sinh giáo viên cần:
              - Đầu tư vào bài soạn, nghiên cứu kỹ để có câu hỏi thảo luận cho học sinh.
-        Câu hỏi phải khuyến khích được tất cả HS trong lớp suy nghĩ. Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, vừa sức để học sinh có thể trả lời
-        Ngay từ đầu, xây dựng cho học sinh phương pháp học tập, những qui định  đối với học sinh về việc học  nói chung, môn văn nói riêng.
-        Hướng dẫn cho học sinh cách học cũng như cách soạn bài  (Nhất là đối với tiết luyện nói)
-        Có kế hoạch kiểm tra phần chuẩn bị bài của HS
-        Rèn cho học sinh biết tự tổ chức thảo luận nhóm
-        Cần tôn trọng ý kiến HS, tạo điều kiện, dẫn dắt HS thể hiện quan điểm cá nhân của mình.
-        Luôn luôn theo sát diễn biến của cuộc thảo luận và có thể tham gia như một thành viên.
-         Nắm vững qui trình tiết luyện nói và tiến hành các bước một cách linh hoạt, thuần thục.
           2. Về học sinh :
            - Đầy đủ dụng cụ học tập, nhất là bảng phụ, chuẩn bị cả về ngôn ngữ để có được hành văn lưu loát, ý tứ phong phú.
               -  Mỗi cá nhân cần phải chuẩn bị bài kĩ trước ở nhà.
               -  Trước khi thảo luận, cần phải xác định vấn đề cần thảo luận.
               -  Mỗi cá nhân cần phải tự tin, thoải mái  khi tham gia thảo luận, nói trước nhóm, nói trước lớp.
               -  Mỗi cá nhân đều phải tích cực và ý thức hoạt động trong nhóm.
               -  Mỗi cá nhân đều phải ghi chép cụ thể và đầy đủ ý kiến sau khi tổ đã bàn bạc thống nhất                             
            Tóm lại ,dạy văn là một công việc đòi hỏi tính khoa học, nghệ thuật và sáng tạo. Do vậy người dạy văn phải có sự nghiên cứu, tìm tòi, vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp dạy - học mới để việc tổ chức các hoạt động dạy - học văn bản trở nên phong phú, đa dạng và có chiều sâu. Rèn kĩ năng nói cho học sinh qua hoạt động nhóm trong tiết Đọc-hiểu văn bản và luyện nói ở môn ngữ văn 9 là một hoạt động mang tính chuyên môn của người giáo viên dạy văn trong quá trình thực thi giảng dạy chương trình thay sách. Điều đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy - học Văn bản nói riêng và cho bộ môn Ngữ văn nói chung.
      Vấn đề được trình bày trên đây dưới dạng một sáng kiến kinh nghiệm, không có mong muốn gì hơn được bày tỏ những đóng góp nhỏ vào công việc giảng dạy văn và mong được quý thầy cô góp ý. Trong quá trình giảng dạy, chúng tôi sẽ nỗ lực nhiều hơn nữa để làm tốt nhiệm vụ của người giáo viên dạy văn.

     VIII/ ĐỀ NGHỊ :
-        Đối với giáo viên:
+ Giáo viên dạy các cấp mầm non và tiểu học cần chú ý hơn đến việc rèn kĩ năng phát âm chuẩn cho học sinh .
+ Giáo viên dạy Ngữ văn THCS cần có sự đầu tư giảng dạy trong việc rèn kĩ năng nói và phải thực hiện thường xuyên đồng bộ từ các lớp 6,7,8  đến lớp 9 .
-        Đối với phòng giáo dục : Tiếp tục phát huy việc tổ chức các hoạt động sinh hoạt chuyên môn về việc rèn kĩ năng nói cho học sinh để giáo viên được giao lưu, trao đổi,học hỏi Đối với Bộ giáo dục:
+Cung cấp tài liệu, băng hình về việc rèn kĩ năng nói cho học sinh trong dạy -học Ngữ văn.
+Tăng tiết luyện nói về văn học ở khối lớp 8, 9 để học sinh tập thuyết trình văn học một lần trên một năm học.            
                                                                                                Nguyễn Thị Bích Trâm






Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét